GS Vũ Đình Cự là một trong những trí thức tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XX, người hội tụ hiếm có giữa nhà khoa học, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách. Ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học tại Đại học Lomonosov danh tiếng của Liên Xô; từng cùng đồng đội "mổ phanh" bom từ trường thế hệ mới của Mỹ, chế tạo thiết bị phá thủy lôi tự động trong những năm chiến tranh; đồng thời đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực công nghệ cao, góp phần đưa khoa học - công nghệ trở thành động lực phát triển đất nước.
Người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công TSKH tại đại học danh tiếng nhất Liên Xô
GS Vũ Đình Cự (sinh ngày 15/2/1936, quê xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) là một trong những trí thức đầu tiên được đào tạo và trưởng thành trong chế độ mới. Sau hòa bình lập lại năm 1954, ông trở thành sinh viên khóa I Trường Đại học Sư phạm. Tốt nghiệp năm 1956, ông được phân công về công tác tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, là một trong những giảng viên đầu tiên góp phần đặt nền móng xây dựng nhà trường trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu cả nước, đặc biệt trong lĩnh vực Vật lý.
Năm 1960, ông được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva mang tên Lomonosov. Sau 7 năm học tập và nghiên cứu, ông bảo vệ xuất sắc luận án phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ) và luận án tiến sĩ toán – lý (nay là tiến sĩ khoa học) chuyên ngành vật lý chất rắn với đề tài về màng mỏng từ tính. Thành tích này đưa GS Vũ Đình Cự trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học tại Trường Lomonosov, một trong những trường đại học danh tiếng nhất Liên Xô thời bấy giờ. Kết quả nghiên cứu về màng mỏng từ tính sau đó trở thành nền tảng để ông triển khai nhiều công trình ứng dụng trong công nghệ cao và tự động hóa.
“Mổ phanh" quả bom từ trường thế hệ mới mang tên "Kẻ hủy diệt"
Trở về nước giữa giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt, GS Vũ Đình Cự vừa giảng dạy, vừa tập trung xây dựng và phát triển bộ môn Vật lý chất rắn tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Tháng 8/1972, ông được Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu giao một nhiệm vụ đặc biệt, tuyệt mật: biệt phái sang Bộ Giao thông Vận tải tham gia Tiểu ban rà phá bom mìn, thủy lôi. Tại đây, ông cùng các đồng nghiệp của Trường Đại học Bách khoa và Bộ Giao thông Vận tải thành lập tổ đặc nhiệm GK1 (Giao thông – Bách khoa), nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật phục vụ rà phá bom, mìn, thủy lôi từ trường, bảo đảm an toàn cho lực lượng làm nhiệm vụ và góp phần phá thế phong tỏa miền Bắc của Mỹ.
Trong điều kiện thiếu thốn của thời chiến, với sự hỗ trợ của Trung tâm máy tính điện tử thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cùng các thiết bị nghiên cứu do Liên Xô viện trợ, tổ GK1 đã "mổ phanh" quả bom từ trường thế hệ mới mang tên DST ("Kẻ hủy diệt") để tìm ra cơ chế kích nổ. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm đã chế tạo thành công thiết bị phá bom, thủy lôi từ trường tự động hoạt động như một "robot", có khả năng đánh lừa các loại bom, thủy lôi từ trường hiện đại của Mỹ, khiến chúng phát nổ mà không gây thương vong cho lực lượng rà phá.
Thiết bị nhanh chóng được đưa vào thực tế, phát huy hiệu quả tại cảng Hải Phòng và nhiều địa điểm trọng yếu khác, góp phần quan trọng bảo đảm giao thông vận tải và làm thất bại âm mưu phong tỏa miền Bắc bằng bom, thủy lôi từ trường của Mỹ trong giai đoạn 1972–1973.
Với những đóng góp đặc biệt đó, GS Vũ Đình Cự cùng các thành viên tổ GK1 được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công. Năm 1996, tổ GK1 tiếp tục được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I ở lĩnh vực khoa học - công nghệ với công trình phá thủy lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
"Nhà thông thái"
Sau ngày đất nước thống nhất, sự nghiệp của GS Vũ Đình Cự bước sang một chặng đường mới. Năm 1977, ông được điều động giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, trung tâm nghiên cứu khoa học tự nhiên và kỹ thuật lớn nhất cả nước vừa được Chính phủ thành lập năm 1975. Một lần nữa, ông trở thành người góp phần đặt nền móng cho một thiết chế khoa học quan trọng.
Dưới sự lãnh đạo của GS Trần Đại Nghĩa cùng các nhà khoa học đầu ngành như Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Đạo, Phan Đình Diệu, Đào Vọng Đức..., GS Vũ Đình Cự có nhiều đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển Viện Khoa học Việt Nam. Giai đoạn này, hoạt động nghiên cứu của ông tập trung vào ứng dụng và phát triển công nghệ. Năm 1980, ông thành lập Viện Kỹ thuật nhiệt đới và trực tiếp giữ cương vị Viện trưởng đến năm 1991.
Một dấu mốc đặc biệt đến vào năm 1984, khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước giao ông thành lập Viện Công nghệ quốc gia và đảm nhiệm cương vị Viện trưởng. Trong bối cảnh Việt Nam chịu cấm vận về công nghệ của Mỹ và các nước phương Tây, Viện Công nghệ quốc gia không chỉ nghiên cứu phát triển các ngành công nghệ cao mà còn tìm cách tiếp cận, đưa các thiết bị và công nghệ hiện đại về phục vụ phát triển kinh tế, quốc phòng và an ninh. Từ môi trường này, nhiều doanh nghiệp khoa học - công nghệ đã ra đời, trong đó thành công nổi bật nhất là Công ty FPT.
Song song với hoạt động khoa học, GS Vũ Đình Cự bắt đầu tham gia Quốc hội từ năm 1982 với cương vị đại biểu Quốc hội khóa VII. Năm 1987, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
Đại hội VII của Đảng năm 1991 đánh dấu bước ngoặt mới khi ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Một năm sau, Quốc hội bầu ông giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa IX, đồng thời kiêm Phó Trưởng ban Khoa giáo Trung ương. Đến năm 1997, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội khóa X, tiếp tục kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, đồng thời đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam.
Ở cương vị nhà hoạch định chính sách, GS Vũ Đình Cự tập trung nghiên cứu chiến lược phát triển khoa học - công nghệ, xây dựng pháp luật và chính sách, song vẫn dành nhiều tâm huyết cho các lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông. Trong nhiều năm, ông là Chủ nhiệm Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước về điện tử, tin học và viễn thông (Chương trình KHCN-01), quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu như Đỗ Trung Tá, Phạm Thế Long, Nguyễn Thúc Hải... Chương trình được xem là "bà đỡ" cho hàng loạt thành tựu nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng công nghệ tại các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Đóng góp nổi bật nhất của ông trong giai đoạn này là nghiên cứu lý luận và hoạch định chính sách về khoa học - công nghệ. Ông sớm đề cập những vấn đề có tính chiến lược như khoa học luận, công nghệ cao, công nghệ thông tin, internet, kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Những nghiên cứu và hoạt động nghị trường của ông góp phần quan trọng vào sự ra đời của nhiều chủ trương, chính sách lớn như Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Giáo dục, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, cùng các quyết sách mở internet và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam.
Thông thạo ba ngoại ngữ Anh, Nga và Pháp, GS Vũ Đình Cự còn dành nhiều thời gian nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị và những vấn đề phát triển của xã hội hiện đại. Sự am hiểu sâu rộng ở cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội khiến nhiều đồng nghiệp đánh giá ông là một học giả hiếm có. Một vị bộ trưởng từng gọi ông bằng hai chữ đầy trân trọng: "nhà thông thái".
Do có nhiều công lao và thành tích trong hoạt động cách mạng, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.
>>> Bài viết nằm trong tuyến chân dung các nhà khoa học hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031.