Bước vào năm 2026, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chính sách 'Gần dân - Vì dân' không chỉ là một khẩu hiệu, mà là kim chỉ nam cho mọi hành động.
KHÔNG CHỈ NHÌN VÀO CON SỐ GDP
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn, từ xung đột địa chính trị, lạm phát cao đến xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ tại nhiều nền kinh tế lớn, việc Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP trên 8% trong năm nay đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận và giới chuyên gia.
Trao đổi với phóng viên Báo Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Đại biểu Quốc hội khóa XV (Đoàn Đại biểu Quốc hội TP HCM) khẳng định, kết quả này không nằm ngoài dự liệu, mà là thành quả của một quá trình điều hành nhất quán, quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận xã hội rộng lớn.
Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân, nhìn một cách tổng thể, tăng trưởng kinh tế năm nay đã nằm trong kế hoạch và đúng theo định hướng chính sách được xác lập ngay từ đầu năm.
Ông cho rằng, trong điều kiện nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng chậm lại, thậm chí rơi vào suy thoái, việc Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng cao cho thấy hiệu quả của đường lối phát triển đúng đắn, sự linh hoạt trong điều hành và sự đồng hành chặt chẽ giữa Quốc hội và Chính phủ.
“Mức GDP đạt khoảng 514 tỷ USD, cùng tốc độ tăng trưởng 8%, đều nằm trong kế hoạch và mức phấn đấu mà chúng ta đã đề ra. Vì vậy, tôi cho rằng kết quả này không có gì bất ngờ nếu nhìn vào quyết tâm và cách làm của chúng ta trong suốt thời gian qua”, ông nói.
Trước băn khoăn cho rằng nếu chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng GDP có thể bỏ qua những rủi ro tiềm ẩn hoặc các yếu tố chưa được phản ánh đầy đủ, đại biểu Trần Hoàng Ngân cho biết, ở thời điểm hiện tại, ông chưa thấy những vấn đề đáng lo ngại.
Ngược lại, theo ông, tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới còn có cơ sở để tiếp tục duy trì ở mức cao hơn, đặc biệt nhờ động lực từ đầu tư công và hoàn thiện hạ tầng kinh tế – xã hội.
“Hiện nay, chúng ta đang đầu tư rất lớn cho hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, đầu tư hạ tầng không phát huy tác dụng ngay lập tức mà cần có độ trễ nhất định”, ông phân tích.
Lấy ví dụ từ các dự án trọng điểm quốc gia, đại biểu Trần Hoàng Ngân cho rằng sân bay quốc tế Long Thành chỉ thực sự bắt đầu lan tỏa mạnh mẽ hiệu quả kinh tế từ năm 2026 trở đi. Khi các công trình hạ tầng lớn hoàn thành và đi vào khai thác, tác động lan tỏa sẽ rất rõ rệt, góp phần tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.
Một điểm nhấn quan trọng khác được đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân đề cập là nền tảng tài chính quốc gia trong những năm gần đây.
“Trong 5 năm vừa qua, kế hoạch tài chính của chúng ta được thực hiện khá tốt. Thu ngân sách tăng, qua đó tạo được nguồn lực để đầu tư mạnh cho hạ tầng”, ông cho biết.
Theo ông, chính sự chủ động và kỷ luật trong quản lý tài chính – ngân sách đã giúp Việt Nam vừa đảm bảo an sinh xã hội, vừa có dư địa để thúc đẩy đầu tư phát triển, nhất là trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động.
Trả lời câu hỏi về sức khỏe tài chính quốc gia, đại biểu Trần Hoàng Ngân khẳng định: Việt Nam đang kiểm soát rất tốt các chỉ tiêu an toàn tài chính.
“Hiện nay, nợ công của chúng ta vẫn ở mức thấp, dưới ngưỡng an toàn rất xa. Như vậy có thể nói là rất an toàn”, ông nhấn mạnh.
Theo đánh giá của đại biểu Trần Hoàng Ngân, việc giữ được kỷ luật tài khóa, kiểm soát nợ công hiệu quả không chỉ giúp ổn định kinh tế vĩ mô mà còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân, từ đó góp phần củng cố nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Từ những phân tích trên, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng kết quả tăng trưởng GDP trên 8% không chỉ là một con số ấn tượng trong ngắn hạn, mà còn là minh chứng cho sự tích lũy nội lực, tạo đà cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.
Với nền tảng tài chính vững, thể chế ngày càng hoàn thiện, hạ tầng được đầu tư đồng bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao được chú trọng, Việt Nam có cơ sở để hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong những năm tới.
“Việc chúng ta đạt được mức tăng trưởng trên 8% đã thể hiện rất rõ kết quả của một quyết tâm chính trị đủ lớn, có sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, cùng với sự lãnh đạo xuyên suốt của Đảng”, đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
CẢI CÁCH PHẢI ĐI VÀO NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI
Sự thịnh vượng của một quốc gia không nên chỉ được đong đếm bằng những con số GDP tăng trưởng. Ý nghĩa thực sự của phát triển phải nằm ở khả năng "chạm" đến đời sống của từng người dân, biến những chỉ số vĩ mô thành niềm hạnh phúc hiện hữu trong mỗi nếp nhà. Phát triển bền vững chính là khi không một ai bị bỏ lại phía sau.
Trong dòng chảy chung đó, lĩnh vực giáo dục được xem là một trong những điểm nhấn quan trọng tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn TP Hải Phòng) cho biết, Quốc hội đã xem xét sửa đổi và thông qua nhiều luật quan trọng như Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), đồng thời ban hành nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá đặc thù để phát triển giáo dục.
Theo Đại biểu Việt Nga, điểm đáng chú ý là các chính sách mới này nhận được sự đồng thuận và phấn khởi lớn từ cử tri cả nước, bởi đây đều là những chính sách an sinh quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền lợi của người học, đội ngũ nhà giáo và tương lai nguồn nhân lực quốc gia.
Một ví dụ điển hình là chủ trương sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất thay vì nhiều bộ như hiện nay. Qua giám sát và tiếp xúc cử tri, nhiều ý kiến cho rằng chủ trương “một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa” theo tinh thần Nghị quyết 29 là đúng hướng, nhưng quá trình triển khai còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho giáo viên, học sinh và phụ huynh. Việc thống nhất một bộ sách giáo khoa từ năm học 2026–2027 được kỳ vọng sẽ khắc phục những vướng mắc này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.
Bên cạnh đó, chính sách miễn phí sách giáo khoa cho học sinh theo lộ trình cũng được người dân đánh giá cao, thể hiện rõ định hướng an sinh, giảm gánh nặng chi phí giáo dục cho các gia đình, nhất là ở vùng khó khăn.
Một nội dung được cử tri ngành giáo dục đặc biệt quan tâm là chính sách điều chỉnh lương và phụ cấp cho giáo viên. Theo Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, không thể nâng cao chất lượng giáo dục nếu không cải thiện đời sống của đội ngũ nhà giáo. Tình trạng thiếu giáo viên kéo dài, “chảy máu chất xám”, đặc biệt ở bậc mầm non, có nguyên nhân sâu xa từ thu nhập thấp, áp lực công việc lớn.
Những chính sách mới về tiền lương và phụ cấp được kỳ vọng sẽ tạo động lực để thu hút sinh viên giỏi vào ngành, giữ chân giáo viên có năng lực, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục một cách bền vững.
Ngoài ra, việc bổ sung bậc Trung học nghề vào hệ thống giáo dục quốc dân được đánh giá là một bước đi đúng đắn, khắc phục tình trạng coi nhẹ giáo dục nghề nghiệp, góp phần giải quyết bài toán “thừa thầy, thiếu thợ” và nâng cao năng suất lao động xã hội.
Việc bỏ kỳ thi tốt nghiệp Trung học cơ sở, giao thẩm quyền xác nhận hoàn thành chương trình cho người đứng đầu cơ sở giáo dục cũng là một cải cách hợp lý, giúp giảm áp lực, chi phí cho học sinh và xã hội, phù hợp với thực tiễn đánh giá quá trình học tập hiện nay.
Theo Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở khâu xây dựng chính sách, mà ở việc tổ chức thực hiện. Thời gian từ khi bế mạc kỳ họp đến thời điểm nhiều luật, nghị quyết có hiệu lực là rất ngắn, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống.
Trước hết là chuẩn bị thi hành, với yêu cầu ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn, chấm dứt tình trạng “luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư”. Mỗi ngày chậm trễ là người dân và doanh nghiệp mất đi một cơ hội.
Thứ hai là chuẩn bị nguồn lực. Chính sách chỉ có ý nghĩa khi có đủ kinh phí, nhân lực để triển khai. Nếu để xảy ra tình trạng “chính sách có rồi nhưng không có nguồn lực”, niềm tin và sự phấn khởi của người dân sẽ bị bào mòn.
Cuối cùng là ý thức và trách nhiệm thực thi. Khi thể chế và nguồn lực đã sẵn sàng, vai trò của người đứng đầu và bộ máy thực hiện là yếu tố quyết định. Chỉ khi chấm dứt được tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, luật và nghị quyết mới thực sự phát huy hiệu quả, mang lại những chuyển biến rõ nét cho giáo dục và đời sống xã hội.
THƯỚC ĐO PHÁT TRIỂN PHẢI 'CHẠM' ĐẾN NGƯỜI DÂN
Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn trước hết thể hiện ở khâu tổ chức thực hiện. Thủ tục hành chính còn rườm rà, quy trình phức tạp, nhiều tầng nấc trung gian khiến người dân và doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian, chi phí để tiếp cận chính sách. Không ít chính sách an sinh, hỗ trợ sản xuất, phát triển giáo dục – y tế được ban hành kịp thời, nhưng việc triển khai chậm trễ, thiếu đồng bộ đã làm giảm hiệu quả và niềm tin xã hội.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong cung cấp dịch vụ công, lấy người dân làm trung tâm. Chính sách chỉ thực sự có giá trị khi người dân tiếp cận dễ dàng, thụ hưởng thuận lợi và cảm nhận rõ ràng lợi ích mang lại. Việc đo lường hiệu quả chính sách vì vậy không thể chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật hay tỷ lệ giải ngân, mà cần được đánh giá bằng mức độ hài lòng của người dân, bằng sự cải thiện thực chất trong đời sống.
Một yếu tố không kém phần quan trọng là vai trò của chính quyền cơ sở – “cánh tay nối dài” của Nhà nước đến với người dân. Nếu chính quyền cơ sở năng động, trách nhiệm, gần dân và hiểu dân, chính sách sẽ được triển khai linh hoạt, phù hợp thực tiễn. Ngược lại, nếu bộ máy thực thi còn tâm lý sợ trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy thì dù chính sách có tiến bộ đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả.
Từ thực tiễn đó, nhiều chuyên gia cho rằng, xu hướng xây dựng cơ chế, chính sách trong thời gian tới cần hướng tới điều chỉnh thước đo phát triển. Bên cạnh các chỉ số kinh tế truyền thống như GDP, cần bổ sung các chỉ số phản ánh chất lượng sống, phúc lợi xã hội và mức độ hạnh phúc của người dân.
Việc tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục không chỉ là yêu cầu nhân văn mà còn là nền tảng cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, đầu tư phải đi đôi với kiểm soát tài chính công, sử dụng hiệu quả nguồn lực, tránh dàn trải, hình thức. Cùng với đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương cần gắn chặt với cơ chế giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình rõ ràng, nhằm phát huy tính chủ động nhưng không buông lỏng quản lý.
Người dân kỳ vọng gì từ chính sách trong năm 2026?
Ghi nhận ý kiến người dân cho thấy, các chính sách liên quan đến việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, y tế, giáo dục và hỗ trợ sản xuất vẫn là mối quan tâm hàng đầu trong năm 2026.
Đối với nhóm lao động tự do và công nhân, việc làm ổn định và an sinh xã hội tiếp tục là vấn đề được đặt lên trước tiên. Anh Phạm Đức Thắng (28 tuổi, lao động tự do tại xã Hải Hưng, tỉnh Nam Định) chia sẻ, thu nhập không đều khiến anh luôn lo lắng mỗi khi ốm đau hay công việc gián đoạn. “Tôi mong các chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế được thiết kế linh hoạt hơn, mức đóng phù hợp để người lao động tự do cũng có thể tham gia lâu dài”, anh Thắng nói.
Cùng quan điểm, chị Trần Thị Linh, công nhân tại một khu công nghiệp Quang Minh (Hà Nội) cho biết, chính sách tiền lương và nhà ở xã hội là điều chị quan tâm nhất trong năm nay.
Với các hộ kinh doanh nhỏ, sự ổn định và minh bạch của chính sách được xem là yếu tố then chốt. Ông Nguyễn Hữu Hậu, chủ một cửa hàng tạp hóa tại phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá cho rằng, điều ông quan tâm nhất là chính sách thuế và thủ tục hành chính.
“Chúng tôi không ngại đóng thuế, chỉ mong các quy định rõ ràng, ổn định, hạn chế thay đổi đột ngột để yên tâm làm ăn, không phải lo lắng vì giấy tờ, thủ tục”, ông Hậu nói.
Nhiều hộ kinh doanh cũng kỳ vọng các chính sách hỗ trợ chuyển đổi số, thanh toán không tiền mặt và tiếp cận vốn ưu đãi sẽ được triển khai thực chất hơn, giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe.
Ở khu vực nông thôn, chính sách nông nghiệp, môi trường và tiêu thụ nông sản là mối quan tâm nổi bật. Bà Nguyễn Thị Lan, một nông dân tại xã Chiềng Sơn, tỉnh Sơn chia sẻ: “Làm nông bây giờ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thị trường. Mong Nhà nước hỗ trợ thêm về giống, kỹ thuật và đặc biệt là đầu ra ổn định cho nông sản, để người dân yên tâm sản xuất”.
Với các gia đình có con nhỏ, giáo dục là vấn đề được đặt nhiều kỳ vọng. Anh Nguyễn Đức Sơn, phụ huynh học sinh ở Hà Nội cho biết, anh quan tâm nhất đến chính sách giảm áp lực học phí và chương trình học phù hợp hơn.
“Chúng tôi mong con được học trong môi trường an toàn, không quá nặng về thành tích, chú trọng kỹ năng sống và phát triển toàn diện”, anh Sơn nói.
Trong khi đó, người cao tuổi lại đặc biệt chú ý đến chính sách chăm sóc sức khỏe. Ông Trần Văn Bình, 65 tuổi, tại phường Việt Hưng, tỉnh Quảng Ninh mong việc khám, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế thuận tiện hơn, nhất là ở tuyến cơ sở. “Người già đi lại khó khăn, nếu y tế cơ sở được nâng cao chất lượng thì chúng tôi đỡ vất vả hơn”, ông Bình chia sẻ.
Từ những ý kiến ghi nhận, người dân mong các chính sách tiếp tục được hoàn thiện theo hướng gần dân, sát thực tiễn, thực sự trở thành điểm tựa cho đời sống và động lực cho phát triển bền vững trong giai đoạn mới.