Khoa học & Công nghệ

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu - Người thắp sáng huyền thoại “Ông compozite” của Việt Nam

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu, “Ông compozite” Việt Nam đã ứng dụng hàng trăm công trình khoa học phục vụ sản xuất và đời sống.

Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu là một trong những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực Hóa hữu cơ. Hơn nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy, ông đã để lại dấu ấn qua hàng loạt công trình khoa học về vật liệu polyme và compozite, nhiều công trình được ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn. Với những đóng góp nổi bật ấy, đồng nghiệp và học trò trìu mến gọi ông bằng cái tên: “Ông compozite”.

Ông là một trong những trí thức được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trao danh hiệu Trí thức khoa học và công nghệ tiêu biểu năm 2022.

gs-ts-tran-vinh-dieu-01062023.jpg
GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu. Ảnh tư liệu: Hoàng Hiếu/TTXVN.

Công trình tâm đắc nhất: Dấu ấn khoa học trên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu chia sẻ, trong suốt cuộc đời làm khoa học, công trình khiến ông tâm đắc nhất đến nay vẫn là “Nghiên cứu công thức keo kết cấu từ nhựa epoxy và công nghệ dán các loại đá quý phục vụ công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Đối với ông, đây không chỉ là một công trình khoa học mang ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng mà còn là kết tinh của trí tuệ, tâm huyết và sự đồng hành bền bỉ giữa ông với người vợ quá cố, PGS.TS Lê Thị Phái.

Những năm 1974-1975, điều kiện khoa học công nghệ của đất nước còn nhiều khó khăn, việc nghiên cứu và chế tạo một loại keo dán đặc biệt để kết dính những mảnh đá nhỏ thành các tấm đá lớn là nhiệm vụ hết sức phức tạp. Nếu như với công nghệ hiện nay, việc tìm ra vật liệu kết dính phù hợp không phải là điều quá khó khăn, thì vào thời điểm đó, để tạo ra loại keo có độ bền cao, chịu được tác động khắc nghiệt của thời tiết và thời gian là một thách thức lớn đối với các nhà khoa học.

Với ý chí, quyết tâm cao, vợ chồng GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu và các cộng sự đã miệt mài tìm tòi, thử nghiệm để đi đến thành công. Trong suốt bốn tháng ròng rã, nhóm nghiên cứu vừa tìm kiếm nguồn đá đỏ phù hợp, vừa cắt, ghép và dán hơn 4.000 mảnh đá nhỏ thành 96 tấm đá lớn.

Những nỗ lực ấy đã được đền đáp xứng đáng. Đúng ngày 30/4/1975, ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước - hình ảnh lá cờ búa liềm và Quốc kỳ bằng đá với diện tích 30m² đã hiện diện trang trọng trên công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở thành dấu ấn khoa học và lịch sử đặc biệt của một thế hệ nhà khoa học Việt Nam.

Những công trình phục vụ cuộc sống

Tên tuổi của GS.TSKH. Trần Vĩnh Diệu còn gắn với nhiều công trình lớn khác. Trong đó, công trình được ông dành nhiều tâm huyết là nghiên cứu chế tạo sơn epoxy chống ăn mòn thực phẩm để bảo vệ các xitec đường sắt chuyên chở nước mắm từ Nam ra Bắc.

Những năm đó, nước mắm chủ yếu được vận chuyển bằng can nhựa, dễ nứt vỡ, gây thất thoát hàng hóa và hư hỏng phương tiện. Việc nghiên cứu thành công loại sơn epoxy chuyên dụng đã góp phần nâng cao hiệu quả vận chuyển, giảm chi phí và hạn chế hao hụt trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn.

Sau khi đưa vào ứng dụng, công nghệ này được chuyển giao cho Nhà máy Cơ khí Nội thương và sử dụng để bảo vệ các bồn chứa của Công ty Rượu vang Thăng Long. Đây cũng là công trình được ông thực hiện cùng người vợ, người đồng nghiệp thân thiết - cố GS.TS Lê Thị Phái.

Đề tài “Nhà vòm compozite che máy bay chiến đấu” (tác giả Trần Vĩnh Diệu, Trần Vĩnh Hưng và Bùi Chương) cũng là một trong những công trình tạo nên dấu ấn của ông.

Từ thực tế những máy bay chiến đấu trị giá lớn phải phơi mưa, phơi nắng hoặc chỉ được che phủ bằng bạt, nhóm nghiên cứu đã chế tạo thành công nhà vòm compozite cao 8m, rộng 16m, dài 25m, chịu được gió cấp 12 và không bắt cháy. Việc sử dụng phụ gia trong nước giúp giảm 40% giá thành, tăng 30% độ bền, tiết kiệm cho Nhà nước hàng chục tỷ đồng. Công trình được trao Giải Nhất Giải thưởng Sáng tạo Khoa học - Công nghệ Việt Nam năm 1995.

Ông cùng cộng sự cũng đã nghiên cứu, ứng dụng vật liệu PC để chế tạo dải phân cách, lan can phòng hộ và cột biển báo giao thông đường bộ lần đầu tiên tại Việt Nam. Vật liệu này có độ bền cao, chịu va đập tốt, bảo đảm an toàn hơn bê-tông khi xảy ra va chạm giao thông.

Ngoài ra, còn hàng trăm công trình nghiên cứu khác. Hơn nửa thế kỷ nghiên cứu, các công trình của GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu đều hướng tới ứng dụng thực tiễn. Theo ông, hóa hữu cơ chỉ thực sự có giá trị khi đi vào cuộc sống, giải quyết những vấn đề cụ thể của sản xuất và đời sống. Nếu không, các lý thuyết khoa học sẽ chỉ dừng lại ở những khái niệm khô cứng và trừu tượng.

Chính từ quan niệm ấy, ông đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo để đưa khoa học bước ra khỏi phòng thí nghiệm, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của đất nước và đời sống nhân dân.

Huyền thoại “Ông compozite”

Sinh ra và lớn lên tại xã Đức Tùng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, vùng quê nghèo đã sớm hun đúc ở Trần Vĩnh Diệu ý chí tự lập và khát vọng vươn lên bằng con đường học vấn.

Năm 1956, sau khi tốt nghiệp phổ thông hệ 9 năm, ông thi đỗ vào khóa I Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Chỉ sau một thời gian ngắn, chàng sinh viên ngành Hóa hữu cơ đã vươn lên nhóm dẫn đầu của khóa học. Năm 1959, sau khi hoàn thành 3 năm học trong nước, ông được cử sang Moskva đào tạo chuyển tiếp.

Những năm học tập tại Liên Xô đã mở ra con đường gắn bó trọn đời với ngành hóa hữu cơ. Được tiếp xúc với nhiều chuyên gia đầu ngành, cùng bản tính ham học hỏi, cần cù và say mê nghiên cứu, Trần Vĩnh Diệu luôn đạt thành tích xuất sắc, tốt nghiệp đại học với tấm bằng đỏ danh giá.

Năm 1962, ông trở về nước giảng dạy tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bốn năm sau, ông tiếp tục được cử sang Trường Hóa kỹ thuật Mendeleev (Moskva) thực hiện nghiên cứu về cơ chế phản ứng hóa học. Năm 1978, ông trở lại ngôi trường này để bảo vệ luận án Tiến sỹ khoa học.

Trở về nước năm 1982, sau hơn hai thập kỷ học tập và nghiên cứu ở trong và ngoài nước, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu dồn toàn bộ tâm sức cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Ông tham gia giảng dạy hầu hết các môn học chuyên ngành, đặc biệt là hóa lý polyme; trực tiếp đào tạo hàng nghìn kỹ sư và hướng dẫn hàng chục nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án.

Không chỉ truyền đạt kiến thức, ông còn truyền cho nhiều thế hệ học trò niềm say mê nghiên cứu khoa học và tinh thần lao động nghiêm túc. Nhiều học trò của ông sau này trở thành các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực vật liệu và hóa học.

Trong suốt sự nghiệp, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu không ít lần đứng trước cơ hội làm giàu từ các công trình nghiên cứu và công nghệ do mình tạo ra. Nhiều doanh nghiệp từng mời ông hợp tác với chế độ đãi ngộ hấp dẫn. Tuy nhiên, ông lựa chọn ở lại với giảng đường, phòng thí nghiệm và các đề tài khoa học.

Ông quan niệm, đã được Nhà nước tạo điều kiện học tập và trưởng thành thì trách nhiệm của nhà khoa học là cống hiến tri thức cho đất nước. Chính lựa chọn ấy khiến gần như cả cuộc đời ông gắn bó với nghiên cứu công nghệ polyme và compozite.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu được đồng nghiệp và học trò trìu mến gọi là “Ông compozite”, như một sự vinh cho cả một đời đam mê khoa học và sáng tạo của ông.

Bài viết nằm trong tuyến bài "Chân dung nhà khoa học" Hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Liên hiệp Hội Việt Nam, nhiệm kỳ 2026–2031.

back to top