Khoa học & Công nghệ

18 tháng thực hiện Nghị quyết 57: Điểm nổi bật nhất là sự thay đổi về nhận thức

Sau 18 tháng, Nghị quyết 57 đã thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao nhận thức về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây được xem là một trong những nghị quyết chiến lược, xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa đất nước. Sau khoảng 18 tháng triển khai, nhiều kết quả bước đầu đã xuất hiện, song con đường hiện thực hóa các mục tiêu lớn vẫn còn một số điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Điểm nổi bật nhất sau 18 tháng thực hiện Nghị quyết 57 là sự thay đổi về nhận thức. Nếu trước đây chuyển đổi số hay đổi mới sáng tạo chủ yếu được coi là nhiệm vụ của ngành khoa học và công nghệ hoặc ngành thông tin truyền thông, thì nay đã trở thành yêu cầu chung của toàn bộ hệ thống chính trị. Hầu hết các bộ, ngành và địa phương đều xây dựng chương trình hành động, ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết 57, coi chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.

content-2.jpg

Song song với đó, nhiều cơ chế, chính sách mới cũng được thúc đẩy. Quốc hội và Chính phủ đã đẩy nhanh việc sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển trí tuệ nhân tạo. Một số cơ chế thử nghiệm trong lĩnh vực công nghệ mới được nghiên cứu nhằm tạo không gian cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo mà vẫn đảm bảo quản lý rủi ro.

Ở lĩnh vực chuyển đổi số, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và kết nối dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước tiếp tục được mở rộng. Nhiều dịch vụ công trực tuyến được tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia, giúp giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính. Đề án 06 tiếp tục trở thành nền tảng quan trọng trong việc khai thác dữ liệu dân cư, phục vụ cả người dân lẫn doanh nghiệp.

Kinh tế số cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng mạnh; thương mại điện tử, logistics số, công nghệ tài chính và các nền tảng số phát triển nhanh. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào chăm sóc khách hàng, quản trị doanh nghiệp, sản xuất và phân tích dữ liệu. Một số doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đầu tư mạnh vào AI, điện toán đám mây và bán dẫn, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ bán dẫn cũng trở thành điểm sáng mới. Việt Nam đẩy mạnh hợp tác với nhiều tập đoàn công nghệ quốc tế trong đào tạo nhân lực và phát triển hệ sinh thái bán dẫn. Đây là lĩnh vực được kỳ vọng sẽ tạo bước nhảy vọt trong giai đoạn tới khi nhu cầu toàn cầu về chip điện tử tiếp tục tăng.

Thể chế vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ

Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn, giữa mục tiêu của Nghị quyết 57 và kết quả đạt được vẫn còn những khoảng cách nhất định.

Vấn dề đầu tiên là thể chế vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ. Không ít quy định còn chồng chéo hoặc chưa phù hợp với các mô hình kinh doanh mới. Nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn, thử nghiệm sản phẩm hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Một điểm nghẽn khác là nguồn nhân lực chất lượng cao. Dù nhu cầu về chuyên gia AI, an ninh mạng, dữ liệu lớn, bán dẫn và điện toán đám mây tăng nhanh, số lượng nhân lực đáp ứng được yêu cầu vẫn còn hạn chế. Hiện tượng thiếu hụt kỹ sư giỏi, cùng với tình trạng cạnh tranh nhân lực gay gắt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, khiến nhiều dự án công nghệ gặp khó khăn.

Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển cũng chưa đạt kỳ vọng. Tỷ lệ chi cho R&D của Việt Nam vẫn thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Không ít viện nghiên cứu và trường đại học vẫn thiếu nguồn lực để thực hiện các dự án có quy mô lớn hoặc nghiên cứu dài hạn. Mối liên kết giữa nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa thực sự chặt chẽ.

Ở cấp địa phương, mức độ triển khai Nghị quyết 57 còn chưa đồng đều. Một số địa phương đã có sự bứt phá trong chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số, trong khi nhiều nơi vẫn gặp khó về hạ tầng số, nguồn nhân lực và kinh phí đầu tư. Điều này tạo ra khoảng cách khá lớn giữa các vùng trong khả năng ứng dụng khoa học, công nghệ.

Một vấn đề khác là hiệu quả ứng dụng khoa học công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khiêm tốn. Phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung vào các giải pháp số cơ bản thay vì đầu tư nghiên cứu, đổi mới quy trình sản xuất hay phát triển công nghệ lõi. Nếu không có các chính sách hỗ trợ đủ mạnh, khu vực doanh nghiệp này sẽ khó bắt kịp tốc độ chuyển đổi của nền kinh tế.

Dù còn nhiều hạn chế, 18 tháng đầu thực hiện Nghị quyết 57 vẫn cho thấy những tín hiệu tích cực. Điều quan trọng nhất có lẽ không chỉ nằm ở số lượng văn bản được ban hành hay các dự án được triển khai, mà ở việc khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành một ưu tiên chiến lược trong hoạch định chính sách phát triển quốc gia. Chặng đường phía trước sẽ đòi hỏi những cải cách mạnh mẽ hơn về thể chế, đầu tư, đào tạo nhân lực và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Nếu các điểm nghẽn đã đề cập được tháo gỡ đồng bộ, Nghị quyết 57 có thể trở thành nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất, thay vì chủ yếu dựa vào lao động và vốn như trước đây.

back to top