Khoa học & Công nghệ

GS.VS Vũ Tuyên Hoàng - Người hùng Nông nghiệp Việt Nam

Là nhà nông học xuất sắc, GS.VS Vũ Tuyên Hoàng đã góp phần đưa đất nước từ thiếu lương thực trở thành cường quốc xuất khẩu gạo.

GS.VS Vũ Tuyên Hoàng là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền khoa học Việt Nam hiện đại. Không chỉ là nhà nông học xuất sắc với nhiều đóng góp mang tính đột phá cho ngành nông nghiệp, ông còn là nhà quản lý khoa học uy tín, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng, Nhà nước và giới trí thức khoa học - công nghệ, trong đó có hai nhiệm kỳ giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho khoa học nông nghiệp nước nhà, ông được nhiều đồng nghiệp và giới chuyên môn trân trọng gọi là “ông Thần Nông” của nền nông nghiệp Việt Nam.

gsvs-vu-tuyen-hoang-2.jpg
GS.VS Vũ Tuyên Hoàng, nguyên Chủ tịch Hội đồng trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Người góp phần làm nên cuộc cách mạng lúa gạo Việt Nam

Gần như trọn đời gắn bó với đồng ruộng và công tác nghiên cứu, ông có 18 năm giữ cương vị Chủ nhiệm Chương trình lương thực quốc gia, góp phần định hình chiến lược phát triển cây lúa, đưa Việt Nam từ tình trạng thiếu lương thực trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Hoa Nam (Trung Quốc) năm 1960, GS Vũ Tuyên Hoàng bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu tại Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Công trình lớn đầu tiên của ông là nghiên cứu chuyển đổi lúa chiêm sang lúa mùa, một hướng đi được xem là táo bạo trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp thời bấy giờ.

gsvs-vu-tuyen-hoang-8587.jpg
GS Vũ Tuyên Hoàng (người thứ hai từ trái sang) hướng dẫn cán bộ khoa học Viện Cây lương thực, cây thực phẩm tại ruộng thí nghiệm. Ảnh tư liệu.

Để hoàn thành đề tài, ông gần như dành trọn thời gian trên đồng ruộng, có những tháng lội ruộng tới 29 ngày. Thành công của nghiên cứu đã mở đường cho sự ra đời của các giống lúa Đông Xuân 1, Đông Xuân 2, Đông Xuân 3, góp phần giải quyết bài toán lương thực của đất nước trong thập niên 1960 và tạo nền tảng cho nhiều giống lúa năng suất cao về sau.

Năm 1969, ông sang Liên Xô học tập và tiếp tục gây tiếng vang trong giới khoa học quốc tế với giả thuyết về hai hệ thống gene điều khiển sinh trưởng và dinh dưỡng của cây lúa. Theo các nhà khoa học nông nghiệp, đây là một hướng nghiên cứu tiên phong vào thời điểm đó. Công trình đã được Liên Xô sử dụng làm cơ sở khoa học xây dựng quy trình thâm canh lúa tại vùng Krasnodar rộng khoảng 200.000 ha; đồng thời trở thành nền tảng quan trọng cho nghiên cứu di truyền và chọn giống cây trồng ở Việt Nam.

Trở về nước, GS Vũ Tuyên Hoàng cùng các cộng sự tập trung nghiên cứu giống mới, hoàn thiện kỹ thuật canh tác và đẩy mạnh chuyển giao khoa học đến nông dân. Từ những thành tựu đó, hàng loạt giống lúa thâm canh, lúa chịu hạn, chịu ngập úng và lúa chất lượng cao đã được đưa vào sản xuất, tạo động lực quan trọng cho quá trình chuyển mình của ngành lúa gạo Việt Nam.

Trong hơn 50 công trình khoa học được công nhận cấp quốc gia của ông có nhiều giống lúa nổi bật như Xuân số 2, NN75-6; các giống lúa chịu hạn CH5, CH133; đặc biệt là những giống lúa chịu ngập úng U14, U17 - được đánh giá là những giống đầu tiên thuộc nhóm này trên thế giới. Các giống lúa giàu protein như P4, P6 cũng từng giành giải thưởng quốc tế về lúa gạo.

Trong suốt hành trình làm khoa học, tư duy của GS Vũ Tuyên Hoàng luôn gắn chặt với yêu cầu thực tiễn của đất nước. Khi Việt Nam còn thiếu lương thực, ông ưu tiên phát triển các giống cây cho năng suất cao; khi an ninh lương thực đã được bảo đảm, ông chuyển hướng sang nâng cao chất lượng nông sản. Dấu ấn ấy được thể hiện rõ trong suốt 18 năm ông phụ trách các chương trình quốc gia về cây lương thực và thực phẩm, góp phần quan trọng đưa Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu gạo.

Ông đã nghiên cứu 26 giống lúa được công nhận giống nhà nước; tác giả của 20 giống rau, màu; 8 giống cây ăn quả cấp nhà nước. Ông còn là tác giả của 5 quy trình kỹ thuật cấp nhà nước với cây trồng. Trước khi mất, ông vẫn đang là chủ nhiệm một đề tài độc lập cấp nhà nước về công trình chọn tạo giống lúa chất lượng cao phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

Không chỉ thành công với cây lúa, GS Vũ Tuyên Hoàng còn là một trong những người tiên phong nghiên cứu khoai tây trồng bằng hạt, khoai lang có hàm lượng tinh bột cao, đồng thời tham gia chọn tạo nhiều giống cây ăn quả, trong đó có giống táo má hồng từng được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam.

Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc cho khoa học nông nghiệp và an ninh lương thực quốc gia, GS Vũ Tuyên Hoàng được tôn vinh là "Ngôi sao Thần Nông".

Nhà khoa học mang tâm hồn thi sĩ

GS.VS Vũ Tuyên Hoàng sinh ra trong một gia đình trí thức, văn nghệ sĩ danh tiếng. Ông là con trai của nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan, người được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996, và nữ sĩ Hằng Phương.

Dù lớn lên trong môi trường đậm đặc truyền thống văn chương, nghệ thuật, GS Vũ Tuyên Hoàng lại lựa chọn một con đường khác: dành trọn cuộc đời cho khoa học nông nghiệp và sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam.

Sau quá trình học tập và nghiên cứu trong nước, ông tiếp tục tu nghiệp tại Liên Xô, nơi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp. Ông trở thành giáo sư, tiến sĩ khoa học ngành nông nghiệp, đồng thời được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên bang Nga, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới đang phát triển và Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Đông Nam Á.

Trong giới khoa học, GS Vũ Tuyên Hoàng được biết đến là một học giả có kiến thức uyên bác, am hiểu sâu rộng cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật lẫn khoa học xã hội và nhân văn. Đằng sau dáng vẻ thư sinh, giản dị là một tư duy sắc sảo, giàu trí tưởng tượng, luôn tìm kiếm những ý tưởng mới nhưng đồng thời kiên trì theo đuổi các giá trị thực tiễn.

Ông thường chia sẻ với đồng nghiệp một quan niệm sống giản dị mà sâu sắc: “Làm quan thì nhất thời; làm dân thì vạn đại; còn làm nhà khoa học thì mãi mãi”.

gsvs-vu-tuyen-hoang-3-8875.jpg
"Xóm nhỏ", tranh màu nước của GS.VS Vũ Tuyên Hoàng

Không chỉ là nhà khoa học đầu ngành, GS Vũ Tuyên Hoàng còn mang tâm hồn của một người nghệ sĩ. Bên cạnh những công trình nghiên cứu đồ sộ, ông để lại một gia sản văn học nghệ thuật đáng kể với tập thơ “Thời gian” xuất bản năm 2001, hàng chục tập thơ in chung, khoảng 400 bài tản văn đăng trên Tạp chí Thế giới mới trong giai đoạn 1996-2004 cùng nhiều tập tản văn khác.

Niềm đam mê nghệ thuật của GS Vũ Tuyên Hoàng không chỉ dừng lại ở văn chương, ông còn vẽ tranh chân dung, phong cảnh, có nhiều tác phẩm được giới thiệu trên các tạp chí và tham gia triển lãm mỹ thuật.

Song hành với sự nghiệp nghiên cứu, GS Vũ Tuyên Hoàng còn là một nhà quản lý khoa học có uy tín. Ông từng giữ cương vị Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Ông cũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa V, VI, VII, VIII; đại biểu Quốc hội các khóa VIII, XI, XII; Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Trên cương vị Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam khóa IV và V, GS Vũ Tuyên Hoàng đã góp phần tập hợp, kết nối đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ cả nước, khơi dậy tinh thần sáng tạo và cống hiến cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

Với những đóng góp nổi bật cho khoa học nông nghiệp Việt Nam và thế giới, ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô giai đoạn 1988-1991 và tiếp tục là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên bang Nga từ năm 1991.

Ở GS Vũ Tuyên Hoàng, người ta thấy sự hòa quyện hiếm có giữa nhà khoa học, nhà quản lý, người nghệ sĩ và một trí thức luôn đau đáu với vận mệnh đất nước. Đó cũng là lý do tên tuổi ông không chỉ được ghi nhớ bởi những thành tựu khoa học, mà còn bởi một nhân cách lớn và một tâm hồn giàu cảm xúc.

GS.VS. Vũ Tuyên Hoàng đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Hai, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN (năm 2000), Giải thưởng Lúa thế giới lần thứ nhất (năm 1998) và nhiều phần thưởng cao quý khác. Với những đóng góp lớn của mình, năm 2021 ông được Nhà nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Bài viết nằm trong tuyến bài "Chân dung nhà khoa học" Hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Liên hiệp Hội Việt Nam, nhiệm kỳ 2026–2031.

back to top