Tháng 6/2008, PGS.TS, Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm đã tạo nên dấu mốc đặc biệt cho khoa học nông nghiệp Việt Nam khi chuyển nhượng thành công bản quyền giống lúa lai hai dòng TH3-3 với giá trị kỷ lục 10 tỷ đồng. Thương vụ đã mở ra động lực mới cho hoạt động nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, góp phần khẳng định giá trị của các thành tựu khoa học nông nghiệp trong cơ chế thị trường.
Khát vọng thoát khỏi sự phụ thuộc vào giống ngoại
Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm cho biết, vào những năm 90 của thế kỷ trước, phong trào trồng lúa lai nở rộ, nhưng hạt giống chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc. Dù năng suất tăng lên nhưng giá giống lại rất đắt đỏ, khiến chi phí sản xuất của người nông dân bị đẩy lên cao. Ngoài ra, giống cây trồng có tính thích ứng khu vực rất cao, một giống lúa tốt ở nước ngoài chưa chắc đã phù hợp hoàn toàn với điều kiện sinh thái và khí hậu khắc nghiệt của Việt Nam.
“Phải phấn đấu làm sao phải tạo ra giống lúa 'Made in Vietnam', hợp với điều kiện Việt Nam hơn”, bà trăn trở. Mục tiêu lúc đó của bà là làm ra một giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, chịu được sâu bệnh và quan trọng nhất là phải thích ứng được với "đặc sản" khí hậu miền Bắc, đó là cái nóng gay gắt của vụ mùa, gió bão và tình trạng ngập úng.
Khát vọng ấy không gì khác ngoài việc giúp người nông dân Việt Nam vốn sống phụ thuộc vào đồng ruộng đủ ăn và có thể tiến tới làm giàu. Và bà đã làm được.
Giống lúa lai hai dòng TH3-3 được PGS.TS, Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm chọn tạo từ tổ hợp lai T1S-96/R3. Trong đó, T1S-96 là dòng mẹ bất dục đực cảm ứng nhiệt, còn R3 là dòng bố có khả năng phục hồi hữu hiệu. Sự kết hợp này đã tạo nên một giống lúa lai có sức sinh trưởng mạnh, khả năng thích nghi rộng và năng suất vượt trội.
TH3-3 có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, chỉ từ 105–115 ngày trong vụ mùa và 115–125 ngày trong vụ xuân, phù hợp với cơ cấu mùa vụ của nhiều địa phương. Nhờ đó, nông dân có thể chủ động bố trí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác.
Một trong những ưu điểm nổi bật của TH3-3 là năng suất cao, đạt bình quân 6–7 tấn/ha, nhiều nơi đạt tới 8 tấn/ha, vượt đáng kể so với nhiều giống lúa thuần truyền thống. Giống lúa này cũng cho thấy khả năng thích nghi tốt tại nhiều vùng sinh thái khác nhau, từ đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đến khu vực Tây Nguyên.
Với thân cây cứng, TH3-3 có khả năng chống đổ ngã tốt, đặc biệt phù hợp trên các chân đất sản xuất ba vụ (hai vụ lúa, một vụ màu). Bên cạnh đó, giống còn thể hiện khả năng chống chịu khá với một số bệnh hại nguy hiểm như bạc lá, khô vằn và đạo ôn, góp phần giảm chi phí phòng trừ sâu bệnh cho người sản xuất.
Không chỉ nổi bật về năng suất, TH3-3 còn được đánh giá cao về chất lượng gạo. Hạt gạo dài trên 7 mm, cơm nấu lên dẻo, mềm, có vị đậm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Ngay sau khi được đưa vào sản xuất đại trà, TH3-3 nhanh chóng được nông dân đón nhận và mở rộng diện tích gieo trồng. Có thời điểm, giống lúa này chiếm hơn 60% diện tích lúa lai của cả nước, trở thành một trong những giống chủ lực, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của hàng triệu hộ nông dân.
Việc làm chủ công nghệ chọn tạo và sản xuất lúa lai hai dòng đã góp phần giảm sự phụ thuộc vào nguồn giống ngoại nhập, nâng cao năng lực tự chủ của ngành nông nghiệp và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của lĩnh vực sản xuất lúa gạo.
Dù năng suất của TH3-3 chưa bằng được những giống lúa lai ba dòng của Trung Quốc, nhưng thích hợp với điều kiện kinh tế của người nông dân bởi được sản xuất hoàn toàn trong nước, cùng với các ưu điểm.
Năm 2008, PGS.TS.AHLĐ Nguyễn Thị Trâm đã ký hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giống lúa TH3-3 với giá trị 10 tỷ đồng cho Công ty TNHH Cường Tân. Đây là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong ngành lúa gạo Việt Nam.
Hành trình tạo giống lúa được chuyển nhượng bạc tỷ
”Giá trị hợp đồng 10 tỷ đồng là một con số "chấn động" bấy giờ, quy đổi bằng khoảng 600.000 USD, gần nửa giải thưởng Nobel. Đối với một nhà khoa học đang trong tình trạng "giật gấu vá vai", phải vay mượn để nuôi quân như tôi, đây là một niềm hạnh phúc tột cùng”, bà cười chia sẻ.
PGS.TS Nguyễn Thị Trâm chia sẻ, để một giống lúa được công nhận và lưu hành không phải là hành trình dễ dàng. Sau quá trình lai tạo, chọn lọc, giống TH3 phải trải qua hệ thống khảo nghiệm nghiêm ngặt của Nhà nước do Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung ương thực hiện.
Giống được đánh giá qua nhiều bước, từ khảo nghiệm diện hẹp trong ba vụ liên tiếp tại các vùng sinh thái khác nhau, khảo nghiệm diện rộng trong điều kiện sản xuất thực tế, đến thử thách khả năng chống chịu sâu bệnh và kiểm tra các tiêu chí về tính khác biệt, đồng nhất, ổn định để đăng ký bảo hộ bản quyền.
Để đưa giống lúa đến gần người sản xuất, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm còn trực tiếp tổ chức trình diễn tại khoảng 26 tỉnh, thành phố phía Bắc, tạo điều kiện để nông dân tận mắt đánh giá và lựa chọn giống cho đồng ruộng của mình.
Thời điểm đó, mọi thứ đều thiếu thốn. Năm 1999, bà về hưu, làm Viện Phó Viện Sinh học Nông nghiệp (thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam), bà vừa làm vừa gom góp, dùng chính đồng lương hưu và công sức cá nhân để duy trì nghiên cứu. Bà tập hợp những sinh viên nhiệt huyết chưa có việc làm, chỉ dạy và cùng họ lăn lộn trên các cánh đồng thí nghiệm.
Thương vụ 10 tỷ không phải là "mua đứt bán đoạn" kiểu nhận tiền “một cục” mà bà vẫn phải đồng hành cùng doanh nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật cho công ty trong suốt 3-4 năm để hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống ở từng vùng khác nhau. Khi họ có giống tốt bán ra thị trường, bà mới nhận đủ số tiền bản quyền.
“Số tiền 10 tỷ đồng ấy đã làm thay đổi hoàn toàn điều kiện làm việc Viện nghiên cứu của tôi. Sau nộp thuế, tôi chia cho anh em cộng sự, tái đầu tư máy móc và đặc biệt là mua một chiếc ô tô để phục vụ việc đi lại nghiên cứu, thay vì phải "lọc cọc" nhờ vả khắp nơi như trước”, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm chia sẻ.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Trâm, thành quả ấy không chỉ đến từ nỗ lực của cá nhân hay tập thể nghiên cứu, mà còn nhờ cơ chế, chính sách cởi mở hơn đối với hoạt động khoa học công nghệ. Đặc biệt, Chỉ thị 115 của Chính phủ đã tạo điều kiện để các nhà khoa học được tự chủ hơn trong nghiên cứu, gắn kết kết quả khoa học với nhu cầu thực tiễn và từng bước thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ. Với bà, giá trị lớn nhất của TH3-3 không nằm ở con số 10 tỷ đồng, mà ở việc một giống lúa do người Việt làm chủ đã được thị trường thừa nhận và mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân.
Bài viết nằm trong tuyến bài "Chân dung nhà khoa học" Hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Liên hiệp Hội Việt Nam, nhiệm kỳ 2026–2031.