Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, đất nước ta đang đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tri thức, thực hiện các chủ trương lớn về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, vai trò của đội ngũ trí thức ngày càng quan trọng trong tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ, phản biện xã hội, lan tỏa tri thức phục vụ phát triển bền vững.
Hướng tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Liên hiệp Hội Việt Nam, Báo Tri thức và Cuộc sống đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nguyên Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chuyển từ “tập hợp” sang “kết nối”, từ “góp ý” sang “hiến kế”
Thưa ông, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay?
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu rất cao về đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh đó, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy kiến thức và kiến tạo các giải pháp phát triển. Đây là một trong những nguồn lực chiến lược góp phần giúp đất nước vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ, tránh nguy cơ tụt hậu và hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững.
Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đang từng bước làm chủ và tham gia sâu hơn vào nhiều lĩnh vực trọng yếu như: Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, y sinh, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng, môi trường, kinh tế số, quản trị công, văn hóa, giáo dục.
Các nhà khoa học trẻ, chuyên gia công nghệ, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đã và đang khẳng định năng lực trong môi trường quốc tế. Vấn đề quan trọng hiện nay là phải tiếp tục khơi thông trí tuệ Việt Nam, kết nối trí thức trong nước và ngoài nước, đồng thời xây dựng một hệ sinh thái tri thức “mở, mạnh, chuyên nghiệp” để mọi sáng kiến có giá trị đều có cơ hội đóng góp cho quốc gia.
Theo ông, Liên hiệp Hội Việt Nam đã và đang phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức như thế nào trong sự nghiệp phát triển đất nước?
Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, “mái nhà chung” quy tụ các hội ngành toàn quốc, liên hiệp hội địa phương, tổ chức khoa học công nghệ và đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực.
Trong thời gian qua, Liên hiệp Hội đã phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết trí thức thông qua nhiều phương thức: tổ chức diễn đàn khoa học, hội thảo, tọa đàm chuyên đề; tham gia tư vấn, phản biện chính sách; phổ biến kiến thức; tôn vinh trí thức tiêu biểu; kết nối chuyên gia trong và ngoài nước; đồng hành với địa phương, doanh nghiệp trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
Trong giai đoạn mới, vai trò của Liên hiệp Hội cần được đổi mới mạnh mẽ hơn, chuyển từ “tập hợp” sang “kết nối”, từ “góp ý” sang “hiến kế”, từ hoạt động mang tính phong trào sang những sản phẩm tư vấn, phản biện có chiều sâu, dựa trên dữ liệu, luận cứ và có khả năng đi vào cuộc sống.
Quote: Liên hiệp Hội Việt Nam đã tạo ra không gian để trí thức đóng góp tiếng nói độc lập, khách quan, có căn cứ khoa học vào nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Nhất là trong bối cảnh các quyết sách phát triển ngày càng đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, dựa trên dữ liệu, dự báo khoa học và đánh giá tác động toàn diện.
Cơ chế tiếp nhận, sử dụng và phản hồi ý kiến của trí thức còn chưa thật hiệu quả
Ông đánh giá ra sao về những đóng góp của đội ngũ trí thức trong tư vấn chính sách, phản biện xã hội, chuyển giao tri thức và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn?
Tôi cho rằng những đóng góp của đội ngũ trí thức thời gian qua là rất đáng trân trọng. Trong tư vấn chính sách và phản biện xã hội, trí thức đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho nhiều chủ trương, chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều ý kiến phản biện đã giúp chính sách sát thực tiễn hơn, giảm rủi ro, tránh lãng phí nguồn lực và tăng tính khả thi khi triển khai.
Trong chuyển giao tri thức và ứng dụng khoa học công nghệ, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp cụ thể vào sản xuất nông nghiệp, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, phát triển doanh nghiệp và nâng cao đời sống nhân dân.
Song cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng cơ chế để tiếp nhận, sử dụng và phản hồi ý kiến của trí thức có nơi, có lúc còn chưa thật hiệu quả. Một số hoạt động tư vấn, phản biện còn nặng về hình thức; liên kết giữa viện, trường, doanh nghiệp, địa phương chưa chặt chẽ; kết quả nghiên cứu chưa chuyển hóa mạnh thành sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và chính sách cụ thể.
Phản biện phải góp ý về mục tiêu chính sách, tác động xã hội, tính khả thi, nguồn lực thực hiện và lợi ích của Nhân dân, để chính sách đúng, trúng, kịp thời, gần dân, minh bạch và nhân văn.
Mặt khác, cần xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát đối với các kiến nghị sau tư vấn, phản biện. Từ đó, biết rõ được các kiến nghị khoa học được tiếp thu ra sao, phản hồi như thế nào, chuyển hóa thành chính sách, chương trình, sản phẩm hay giải pháp cụ thể đến đâu.
Khi ý kiến, góp ý của trí thức được lắng nghe nghiêm túc, được phản hồi rõ ràng và có cơ hội đi vào thực tiễn, đội ngũ trí thức sẽ có thêm động lực đóng góp. Đây cũng là cách thiết thực để Liên hiệp hội phát huy vai trò của mình trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực mạnh mẽ đưa đất nước phát triển.
Theo ông, cần làm gì để tạo môi trường thuận lợi hơn cho trí thức, đặc biệt là trí thức trẻ và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, tham gia sâu hơn vào hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo?
Trước hết, phải xây dựng môi trường học thuật dân chủ, minh bạch và đề cao liêm chính khoa học. Quan điểm khoa học khác biệt, các sáng tạo mới cần được tôn trọng, lắng nghe, được tranh luận, được thử nghiệm, thậm chí chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Nếu cơ chế quản lý còn nặng nề về trình tự hồ sơ, thủ tục mà chưa coi trọng kết quả cuối cùng hoặc sản phẩm đầu ra thì rất khó giải phóng năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức.
Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ. Phải có cơ chế đặt hàng nhiệm vụ lớn, giao quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình; chấp nhận độ trễ và rủi ro của nghiên cứu; chuyển mạnh từ tư duy tiền kiểm sang hậu kiểm; đánh giá kết quả nghiên cứu bằng chất lượng, tác động và khả năng ứng dụng trong thực tế; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, nhất là các doanh nghiệp tư nhân cho đổi mới sáng tạo; hình thành các quỹ hỗ trợ nghiên cứu, khởi nghiệp sáng tạo, thương mại hóa kết quả khoa học.
Thứ ba, đối với đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, cần có cơ chế kết nối linh hoạt, thiết thực và phù hợp hơn. Việc thu hút trí thức kiều bào không nên chỉ được hiểu là mời họ về nước làm việc dài hạn, mà có thể được triển khai bằng nhiều hình thức khác nhau như tham gia hội đồng tư vấn, hướng dẫn nhóm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, kết nối các cơ sở đào tạo và phòng thí nghiệm, hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, giảng dạy trực tuyến hoặc đóng góp vào cơ sở dữ liệu chuyên gia.
Quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin, môi trường làm việc chuyên nghiệp, cơ chế phối hợp rõ ràng và những nhiệm vụ cụ thể gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, để trí thức kiều bào thấy rằng sự đóng góp của mình là thiết thực, được trân trọng và có mức đãi ngộ xứng đáng.
Hình thành các diễn đàn trí thức
Ông kỳ vọng gì vào vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp Hội Việt Nam trong việc đồng hành, phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững?
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp Hội Việt Nam luôn là “cầu nối” quan trọng trong việc tập hợp, lắng nghe và phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức, nơi trí tuệ xã hội được chắt lọc, phản ánh và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có giá trị. Trong đó, Mặt trận với vai trò rộng lớn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giám sát, phản biện, tạo đồng thuận xã hội. Liên hiệp Hội Việt Nam có thế mạnh về chuyên môn, mạng lưới chuyên gia, năng lực tư vấn và phản biện khoa học.
Trong giai đoạn tới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp Hội Việt Nam cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động. Việc tập hợp trí thức không chỉ dừng lại ở vận động, mời tham gia hay tổ chức hội nghị, hội thảo, mà phải đi vào những nhiệm vụ cụ thể, những vấn đề lớn, có tính nút thắt của đất nước. Hình thành các diễn đàn trí thức, các nhóm chuyên gia liên ngành, các cơ chế đặt hàng tư vấn, phản biện đối với những vấn đề trọng yếu.
Giám sát, phản biện xã hội trên tinh thần xây dựng, khoa học và trách nhiệm. Giám sát phải chọn đúng vấn đề Nhân dân quan tâm, xã hội bức xúc, chính sách có tác động lớn. Phản biện phải dựa trên dữ liệu, khảo sát thực tiễn, tiếng nói từ cơ sở và sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, doanh nhân, trí thức.
Khi các nguồn lực tri thức Việt Nam trong nước và ngoài nước được kết nối thành sức mạnh chung, đất nước sẽ có thêm nguồn lực rất quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Xin cảm ơn TS Vũ Văn Tiến về cuộc trao đổi trên!
>>> Mời độc giả xem thêm video Nắng nóng cực đoan bao trùm châu Âu: