Khám phá

Vụ tể tướng Trần Khắc Chung và Huyền Trân công chúa, thực hư ra sao?

Khám phá câu chuyện gây chấn động về Trần Khắc Chung và Huyền Trân, cùng những tranh luận về tính xác thực của các giai thoại lịch sử Việt Nam.

Trần Khắc Chung, tên thật là Đỗ Khắc Chung, sinh năm 1247 tại vùng Giáp Sơn (nay thuộc Hải Dương), là một quan đại thần trải qua nhiều triều vua Trần như Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Nhờ tài năng và sự khéo léo trong ứng xử, ông từng bước thăng tiến đến hàng Tể tướng, nắm giữ quyền lực lớn trong triều đình. Tuy nhiên, sự nghiệp của ông không chỉ được xây dựng bằng công trạng mà còn bị phủ bóng bởi những lời chê trách nặng nề từ sử gia đời sau.

Ở giai đoạn đầu sự nghiệp, Trần Khắc Chung thể hiện mình là một người có bản lĩnh và trí tuệ. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285, ông đã dám nhận nhiệm vụ đầy nguy hiểm, sang trại giặc làm sứ giả thương thuyết với Ô Mã Nhi. Trước những lời đe dọa của đối phương, ông vẫn giữ được phong thái điềm tĩnh, đối đáp sắc sảo, không làm nhục quốc thể. Chính tài năng này khiến ông được ban quốc tính họ Trần và nhanh chóng bước vào hàng ngũ đại thần.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, ông có lẽ đã được ghi nhớ như một công thần bình thường. Điều khiến tên tuổi Trần Khắc Chung trở nên đặc biệt chính là vai trò của ông trong vụ hôn nhân chính trị giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Năm 1305, khi Chế Mân cầu hôn Huyền Trân công chúa, triều đình nhà Trần phần lớn phản đối. Thế nhưng, Trần Khắc Chung lại là một trong số rất ít người ủng hộ chủ trương này.

Quyết định ấy, xét về mặt chính trị, không hoàn toàn sai lầm. Cuộc hôn nhân đã mang lại cho Đại Việt hai châu Ô và Lý - vùng đất rộng lớn tương đương với khu vực Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Nhưng cũng chính sự kiện này đã mở đầu cho một câu chuyện đầy tai tiếng.

Năm 1307, Chế Mân qua đời. Theo phong tục Chiêm Thành, hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu theo chồng. Triều đình Đại Việt lập tức tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung được cử cùng sứ đoàn sang Chiêm Thành, tổ chức đưa công chúa về nước. Nhiệm vụ này, về mặt danh nghĩa, là một hành động ngoại giao táo bạo và cần thiết.

Đền thờ Huyền Trân công chúa ở Huế. Ảnh: Quốc Lê.

Thế nhưng, theo ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, chính trong hành trình trở về kéo dài bằng đường biển, Trần Khắc Chung đã “tư thông” với Huyền Trân công chúa. Không chỉ vậy, ông còn bị cho là cố tình đi vòng vèo, kéo dài thời gian để che giấu mối quan hệ "mờ ám" này. Nếu điều này là sự thật, thì đây không chỉ là một bê bối cá nhân mà còn vi phạm nghiêm trọng đạo lý phong kiến, đặc biệt khi đối tượng là nữ nhân hoàng tộc.

Tin đồn này nhanh chóng lan rộng và gây phẫn nộ trong triều đình. Trần Quốc Tảng, một vương gia có uy tín lớn, đã công khai chửi mắng Trần Khắc Chung, gọi ông là “điềm chẳng lành đối với nhà nước”. Câu nói ám chỉ rằng con người này có thể mang lại tai họa cho triều Trần, một nhận định vừa mang tính cảm tính vừa phản ánh sự mất lòng tin sâu sắc.

Không dừng lại ở đó, Trần Khắc Chung còn bị chỉ trích trong nhiều sự kiện chính trị khác. Ông bị cho là đã tham gia vào việc vu cáo Trần Quốc Chẩn – một đại thần trung thành – khiến người này bị ép đến chết oan. Khi vua Trần Minh Tông do dự, chính câu nói: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó” của Trần Khắc Chung đã góp phần khiến nhà vua đi đến quyết định tàn nhẫn. Sự kiện này càng củng cố hình ảnh của ông như một kẻ cơ hội, sẵn sàng liên kết với phe cánh để loại bỏ đối thủ.

Các sử gia đời sau đã không tiếc lời phê phán Trần Khắc Chung. Ngô Sĩ Liên gọi ông là người “gian tà quá quắt”, lên án không chỉ hành vi tư thông với công chúa mà còn cả việc hại người trung lương. Những nhận xét này không chỉ mang tính đạo đức mà còn phản ánh quan điểm của Nho giáo về trách nhiệm của một bậc đại thần: phải trung trực, giữ lễ nghĩa và đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

Dẫu vậy, điều đáng chú ý là Trần Khắc Chung vẫn giữ được địa vị cao trong suốt cuộc đời. Ông không bị trừng phạt nặng nề, thậm chí còn được thăng chức và ban tước. Điều này phần nào cho thấy sự phức tạp trong cơ chế quyền lực của triều Trần, nơi tài năng và sự khéo léo chính trị đôi khi có thể che lấp những sai phạm đạo đức.

Nhìn lại, Trần Khắc Chung là một nhân vật điển hình cho kiểu “công tội lẫn lộn” trong lịch sử. Ông có tài năng, có công lao, nhưng cũng mang nhiều tì vết khó chấp nhận.

Theo Công an Nhân dân, tại hội thảo khoa học “Công chúa Huyền Trân: Cuộc đời và giai thoại” do Viện Nghiên cứu Tôn giáo phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định (cũ) cùng một số đơn vị tổ chức vào năm 2024, có khá nhiều ý kiến từ các nhà nghiên cứu cho rằng khó có khả năng công chúa Huyền Trân và Trần Khắc Chung tư thông như chính sử ghi.

PGS.TS Trần Thuận cho biết, thông tin công chúa Huyền Trân và Trần Khắc Chung tư thông thiếu cơ sở. Lý do là khi sứ thần Champa dâng biểu cầu hôn, cả triều thần Đại Việt phản đối, duy có hai người tán thành việc gả Huyền Trân cho Chế Mân, trong đó có Trần Khắc Chung. Nếu ông và Huyền Trân đã là người tình của nhau thì khó có việc đồng tình với việc gả người mình yêu cho người khác. Trần Khắc Chung lúc ấy đã là một đại quan trong triều, không cần tán đồng quyết định gả công chúa Huyền Trân để lấy lòng vua.

Ngoài ra, theo PGS.TS Trần Thuận nhận định, khó có việc công chúa Huyền Trân phải lên giàn thiêu theo chồng vì Chế Mân chết tháng 5, tháng 9 sứ đoàn Champa sang thăm Đại Việt và dâng tặng voi trắng. Việc dâng voi trắng này không chắc chắn là báo tang mà có thể báo hỷ.

Theo tìm hiểu của PGS.TS Trần Thuận về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ nghi của người Chăm thì ở Chiêm Thành, một người tạ thế, cho dù là dân chúng hay vua quan, thi hài cũng quàn không quá một tháng là phải hỏa thiêu. Điều này có nghĩa là không có chuyện Huyền Trân phải lên giàn lửa cùng chồng.

Nếu đã không có cuộc giải cứu như chính sử ghi chép thì không có động lực để Huyền Trân có thể cảm ơn cứu mạng và tình cảm đến nỗi bỏ qua tất cả để thuận tình với Khắc Chung. Chưa kể, nếu Huyền Trân sinh con cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9 - thời điểm sứ đoàn Chiêm sang báo tin vui, thì tháng 10 năm 1307, lúc ấy Huyền Trân rất cần sự chăm sóc của các cung nữ. Cả đoàn sứ giả đón Huyền Trân về, không phải chỉ có thuyền nhẹ của Khắc Chung và Huyền Trân để hai người có thể tư thông.

Đồng quan điểm trên, GS.TS Đinh Khắc Thuân cũng nhận định, Huyền Trân là công chúa, được giáo dưỡng thành mẫu mực phẩm giá cho thiên hạ nên cũng khó có chuyện tư thông dễ dãi, làm tổn hại thanh danh của hoàng tộc, quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên biên soạn.

Việt Nam sử lược, tác giả Trần Trọng Kim.

back to top