Thời sự

Tri thức Việt Nam toàn cầu: Nguồn lực chiến lược của năng lực quốc gia

Trí thức Việt Nam ở nước ngoài cần được xem là các chủ thể phát triển, những đối tác chiến lược có thể cùng đất nước giải quyết các bài toán lớn...

Bài học phát triển trong kỷ nguyên mới không còn bắt đầu từ tài nguyên thiên nhiên hay dòng vốn đầu tư, mà từ khả năng huy động và kết nối trí tuệ. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, cộng đồng tri thức Việt Nam trên khắp thế giới đang trở thành một nguồn lực chiến lược đặc biệt - nếu Việt Nam biết kiến tạo cơ chế để biến chất xám thành sức mạnh phát triển quốc gia.

Tri thức - tài nguyên không bao giờ cạn

Trong nhiều thập niên, sức mạnh của một quốc gia thường được đo bằng diện tích lãnh thổ, quy mô dân số, tài nguyên thiên nhiên hay tiềm lực kinh tế. Tuy nhiên, khi thế giới bước vào kỷ nguyên số và nền kinh tế tri thức, những thước đo ấy đang thay đổi nhanh chóng. Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, năng lực cạnh tranh quốc gia ngày nay ngày càng được quyết định bởi tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, khả năng kết nối mạng lưới và tốc độ chuyển hóa ý tưởng thành giá trị phát triển.

pgsts-bui-hoai-son.jpg
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.

Trong bối cảnh đó, cộng đồng tri thức Việt Nam toàn cầu cần được nhìn nhận không chỉ là một bộ phận của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, mà là phần mở rộng của năng lực quốc gia.

Đó là đội ngũ đang làm việc tại các trường đại học, Viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ, tổ chức quốc tế, hệ sinh thái khởi nghiệp và các trung tâm sáng tạo hàng đầu thế giới. Họ tiếp cận những công nghệ mới nhất, những chuẩn mực quản trị tiên tiến nhất và sở hữu các mạng lưới hợp tác quốc tế có giá trị đặc biệt. Nếu được kết nối hiệu quả, đây sẽ là "đường dẫn" giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, điều quan trọng là phải thay đổi tư duy. Trí thức Việt Nam ở nước ngoài không nên chỉ được nhìn nhận như những "người xa quê" để kêu gọi bằng tình cảm, mà cần được xem là các chủ thể phát triển, những đối tác chiến lược có thể cùng đất nước giải quyết các bài toán lớn về công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nhiều quốc gia hiện coi chất xám và mạng lưới tri thức toàn cầu là tài nguyên chiến lược còn quan trọng hơn cả vốn hay tài nguyên thiên nhiên.

Lý do rất rõ ràng: tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, dòng vốn có thể dịch chuyển, nhưng tri thức và năng lực sáng tạo nếu được nuôi dưỡng đúng cách sẽ càng sử dụng càng phát triển. Trong nền kinh tế tri thức, giá trị lớn nhất không còn nằm ở việc sở hữu bao nhiêu khoáng sản hay lao động giá rẻ, mà nằm ở khả năng tạo ra ý tưởng mới, công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới và phương thức tổ chức xã hội hiệu quả hơn.

Ông dẫn quan điểm của Ngân hàng Thế giới khi khẳng định tri thức đã trở thành nhân tố then chốt của phát triển kinh tế - xã hội. Khung kinh tế tri thức luôn gắn với giáo dục, đổi mới sáng tạo, hạ tầng thông tin và môi trường thể chế thuận lợi. Điều đó cho thấy tri thức không phải phần "trang trí" của phát triển mà chính là nền hạ tầng sâu của phát triển.

Đặc biệt, trong thời đại số, không quốc gia nào có thể sở hữu toàn bộ tri thức cần thiết. Cạnh tranh giữa các quốc gia thực chất là cạnh tranh về tốc độ học hỏi, tốc độ kết nối, tốc độ ứng dụng và khả năng thích nghi. Quốc gia biết kết nối với mạng lưới tri thức toàn cầu sẽ không chỉ nhập khẩu tri thức mà còn tham gia vào quá trình đồng sáng tạo tri thức - một cấp độ phát triển cao hơn nhiều so với việc chỉ thu hút vốn đầu tư.

Cạnh tranh nhân tài không còn là cuộc đua về tiền lương

Theo đánh giá của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Việt Nam đang đứng trước một vị trí rất đáng chú ý trong cuộc cạnh tranh nhân tài toàn cầu.

Đất nước có khát vọng phát triển, có dân số trẻ, có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đông đảo cùng nhiều trí thức thành danh trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, thể chế thu hút và sử dụng nhân tài vẫn cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn.

Ông nhấn mạnh, các quốc gia hiện nay không còn cạnh tranh nhân tài chỉ bằng mức lương, mà bằng môi trường làm việc, chất lượng sống, quyền tự chủ học thuật, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cơ chế ghi nhận thành quả và khả năng biến đóng góp của cá nhân thành ảnh hưởng xã hội.

Vì vậy, lợi thế về tình cảm dân tộc hay cơ hội phát triển của Việt Nam chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành chính sách cụ thể như cơ chế làm việc linh hoạt, giao nhiệm vụ rõ ràng, đánh giá theo sản phẩm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giảm thủ tục hành chính và tạo môi trường để người tài được làm việc cùng người tài. Theo ông, Việt Nam không thiếu người giỏi; điều còn thiếu là một hệ sinh thái đủ hấp dẫn để trí tuệ Việt Nam toàn cầu muốn gắn bó lâu dài với đất nước.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cảnh báo, nếu không tận dụng được nguồn lực trí thức Việt Nam ở nước ngoài, Việt Nam có thể bỏ lỡ cả một "cửa sổ cơ hội" để rút ngắn khoảng cách phát triển trong 10-20 năm tới.

Khi thế giới bước vào giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ với trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng xanh, kinh tế số và các mô hình quản trị mới, quốc gia nào không kết nối được với những người đang đứng ở tuyến đầu của khoa học - công nghệ sẽ có nguy cơ chỉ là người sử dụng công nghệ, gia công dữ liệu và tiêu thụ nền tảng thay vì trở thành người sáng tạo và đồng định hình luật chơi.

Theo ông, điều mất mát lớn hơn còn nằm ở năng lực học hỏi thể chế. Trí thức Việt Nam toàn cầu không chỉ mang về kiến thức chuyên môn mà còn mang theo phương thức tổ chức phòng thí nghiệm, vận hành đại học, thương mại hóa nghiên cứu, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp và kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học với xã hội. Đây là những giá trị rất khó có thể mua bằng tiền.

Từ "chảy máu chất xám" đến "tuần hoàn tri thức"

Một trong những điểm đáng chú ý trong quan điểm của PGS.TS Bùi Hoài Sơn là cách tiếp cận mới về hiện tượng "chảy máu chất xám".

Theo ông, trong thời đại số, câu hỏi quan trọng không còn là người tài đang ở đâu, mà là họ có được kết nối với đất nước hay không, có được trao cơ hội đóng góp hay không và những đóng góp ấy có được thể chế hóa thành kết quả cụ thể hay không.

Ngày nay, một chuyên gia có thể sống tại Boston, Paris, Seoul hay Tokyo nhưng vẫn giảng dạy trực tuyến, cố vấn doanh nghiệp, tham gia hội đồng khoa học, chuyển giao công nghệ, phản biện chính sách hoặc đồng sáng tạo cùng các nhóm nghiên cứu trong nước.

Vì vậy, thay vì chỉ đặt mục tiêu đưa người tài trở về nước, Việt Nam cần xây dựng nhiều tầng tham gia khác nhau như hợp tác từ xa, cố vấn dự án, hướng dẫn nghiên cứu, đầu tư khởi nghiệp, tham gia mạng lưới chuyên gia hay trở thành "đại sứ tri thức". Khi đó, "chảy máu chất xám" có thể được chuyển hóa thành "tuần hoàn tri thức".

giai-nhat20250528213458.jpg
Giải thưởng Sáng tạo Khoa học công nghệ Việt Nam 2024 và Giải thưởng WIPO 2024

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, tuần hoàn tri thức chính là quá trình tri thức, công nghệ, kinh nghiệm và vốn xã hội được luân chuyển liên tục giữa người Việt trong nước với người Việt ở nước ngoài, giữa Việt Nam với các trung tâm tri thức toàn cầu. Muốn quá trình ấy diễn ra hiệu quả, điều cốt lõi phải là những bài toán thật, cơ chế thật, ngân sách thật và trách nhiệm thật, chứ không chỉ dừng ở những lời kêu gọi chung chung.

Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Israel hay Ấn Độ, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng thành công không đến từ việc vận động bằng tình cảm mà từ việc thiết kế một hệ sinh thái kết nối bền vững giữa Chính phủ, doanh nghiệp, đại học và mạng lưới trí thức toàn cầu. Việt Nam cần học cách chuyển từ tư duy vận động sang tư duy kiến tạo thể chế, đặt hàng rõ ràng cho trí thức tham gia giải quyết các bài toán quốc gia và xây dựng môi trường minh bạch, tôn trọng chuyên môn, đánh giá theo kết quả.

Ông đề xuất xây dựng một nền tảng kết nối tri thức Việt Nam toàn cầu vận hành thường xuyên với ba cấu phần: bản đồ trí thức Việt Nam toàn cầu; ngân hàng các bài toán phát triển của quốc gia và địa phương; cùng cơ chế triển khai nhiệm vụ để chuyên gia được giao việc, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và được ghi nhận xứng đáng.

Thông điệp mà PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh rất rõ: muốn có cộng đồng tri thức số phải có hạ tầng số; muốn có đóng góp chiến lược phải có bài toán chiến lược; muốn người tài gắn bó phải có niềm tin chiến lược.

Khi Việt Nam biết biến tình yêu nước thành cơ chế hành động, biến trí tuệ phân tán thành mạng lưới sáng tạo và biến khát vọng phát triển thành những nhiệm vụ cụ thể, cộng đồng tri thức Việt Nam toàn cầu sẽ trở thành một nguồn lực mới - rất lớn, rất quý và rất Việt Nam - góp phần nâng cao năng lực quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

Mời quý độc giả xem video: Không khí bầu cử ở Hà Nội.
back to top