Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Hải Dương gần đây tiếp nhận nữ bệnh nhân Đ.T.H 28 tuổi (trú tại thành phố Hải Phòng) nhập viện trong tình trạng ngứa nhiều toàn thân, kéo dài dai dẳng hơn 1 năm, đã điều trị nhiều đợt tại chuyên khoa da liễu nhưng không hiệu quả.
Ngứa mạn tính kéo dài
Theo khai thác bệnh sử, trong hơn một năm qua, bệnh nhân Đ.T.H thường xuyên xuất hiện các đợt ngứa mức độ nhiều toàn thân, phải nhập viện điều trị chuyên khoa da liễu định kỳ 1–2 tháng/lần. Các đợt điều trị chỉ giúp giảm ngứa tạm thời trong thời gian dùng thuốc, sau khi ngừng điều trị khoảng một tuần, triệu chứng lại tái phát.
Ban đầu, tình trạng ngứa xuất hiện rải rác ở vùng mạn sườn, tay chân, sau đó lan rộng ra cổ, vai gáy, lưng và mông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt, giấc ngủ và tâm lý người bệnh. Qua tìm hiểu thông tin và được người thân giới thiệu, bệnh nhân đã chủ động đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Hải Dương để khám chuyên sâu về ký sinh trùng.
Phát hiện bệnh nhân nhiễm đa ký sinh trùng
Trước tình trạng ngứa mạn tính kéo dài, tái phát nhiều lần và đáp ứng kém với điều trị da liễu thông thường, các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Hải Dương đã tiến hành thăm khám toàn diện và chỉ định các xét nghiệm chuyên sâu về ký sinh trùng.
Ngoài việc sàng lọc các ký sinh trùng thường gặp như giun đũa chó mèo, giun lươn, sán lá gan, sán dây lợn, qua đánh giá lâm sàng, các bác sĩ nhận thấy bệnh nhân còn có biểu hiện không điển hình nên đã mở rộng chẩn đoán và chỉ định thêm ký sinh trùng hiếm gặp hơn.
Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng ngứa nhiều toàn thân, kéo dài dai dẳng. Ảnh BV
Kết quả xét nghiệm cho thấy, bệnh nhân nhiễm đồng thời 4 loại ký sinh trùng, gồm sán máng, sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ và giun lươn. Đáng chú ý, đây là trường hợp nhiễm sán máng đầu tiên được phát hiện và ghi nhận tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Hải Dương, một bệnh ký sinh trùng hiếm gặp, dễ bị bỏ sót nếu không được nghĩ đến và chẩn đoán đúng hướng. Ngay sau đó, bệnh nhân đã được chỉ định nhập viện để điều trị.
Thói quen ăn đồ tái, sống – yếu tố nguy cơ cao nhiễm ký sinh trùng
Khai thác sâu về chế độ sinh hoạt và ăn uống, bệnh nhân cho biết có thói quen ăn thực phẩm tái, sống trong thời gian dài. Bệnh nhân thường xuyên đi du lịch Thái Lan, yêu thích các món gỏi sống, đồ trộn sống theo phong cách Thái. Khi về Việt Nam bệnh nhân vẫn duy trì thói quen này, đồng thời thường xuyên ăn sashimi cá hồi.
Ngoài ra, trong sinh hoạt hằng ngày, bệnh nhân thường có thói quen ăn rau sống và một số thực phẩm như nem chua, ốc, lươn… Đây đều là những thực phẩm tiềm ẩn nguy cơ nhiễm ký sinh trùng nếu không được chế biến chín và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Bệnh nhân H chia sẻ: “Trước đây tôi chỉ nghĩ mình bị bệnh ngoài da thông thường nên đã điều trị tại các chuyên khoa da liễu nhiều đợt nhưng không khỏi. Sau hơn một năm mệt mỏi vì ngứa nhiều và tái đi tái lại dai dẳng, nay đã tìm được nguyên nhân gốc rễ nên tôi hoàn toàn yên tâm và sẽ tuân thủ điều trị nghiêm túc phác đồ của bác sĩ”.
Diễn biến điều trị tích cực
Sau 5 ngày điều trị nội trú tích cực với phác đồ tối ưu hóa và cá nhân hóa khi bệnh nhân nhiễm cùng lúc 4 loại ký sinh trùng (sán máng, sán lá gan lớn, sán lá gan nhỏ và giun lươn), tình trạng ngứa của bệnh nhân đã giảm rõ rệt, không xuất hiện thêm tổn thương da mới. Các vùng ngứa nhiều trước đó như mạn sườn, cổ vai gáy và mông cải thiện đáng kể. Với việc tiếp tục tuân thủ điều trị và theo dõi chặt chẽ, bệnh nhân được đánh giá có tiên lượng tốt, khả năng chấm dứt tình trạng ngứa kéo dài trong thời gian tới.
Bệnh nhân ngứa toàn thân, đặc biệt là vùng 2 bên mạn sườn, cổ vai gáy và mông. Ảnh BV
Chuyên gia cảnh báo về bệnh sán máng – loại ký sinh trùng hiếm gặp
BSCKI Vũ Tiến Vượng – Trưởng khoa Khám bệnh cho biết: Sán máng (Schistosomiasis) là bệnh ký sinh trùng lây truyền qua tiếp xúc với nguồn nước ngọt bị ô nhiễm có chứa ấu trùng sán, có khả năng xâm nhập trực tiếp qua da. Khác với nhiều loại sán khác ký sinh ở đường tiêu hóa, sán máng thường ký sinh trong mạch máu.
Người có thể nhiễm bệnh khi tắm, bơi lội, lao động hoặc tiếp xúc trực tiếp với ao, hồ, sông, suối, ruộng nước tại các khu vực có mầm bệnh. Chu kỳ phát triển của sán máng phức tạp, với ốc sên là vật chủ trung gian và người là vật chủ cuối cùng.
Triệu chứng của nhiễm sán máng gồm: Đa phần các bệnh nhân mắc sán máng không có triệu chứng.
Giai đoạn cấp: Bệnh nhân có thể xuất hiện phát ban ngứa và thường ở bàn chân, bắp chân, cổ, ngực… do phản ứng quá mẫn và có thể tiến triển thành mụn mủ, mày đay; Hội chứng nhiễm sán máng cấp tính (HC Katayama): sốt đột ngột, mày đay, phù mạch, ớn lạnh, đau cơ, đau khớp, ho khan, tiêu chảy, đau bụng và đau đầu. Đôi khi, xuất hiện một số triệu chứng dai dẳng như sụt cân, khó thở và tiêu chảy mạn tính.
Giai đoạn mạn tính: Triệu chứng phụ thuộc vào tạng bị tổn thương, thường gặp tổn thương ở đường ruột, gan, lách, đường niệu, phổi và hệ thần kinh trung ương. Người bệnh thường có biểu hiện suy dinh dưỡng, thiếu máu, chậm phát triển.
Khuyến cáo phòng ngừa bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh sán máng
Từ trường hợp trên, các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Hải Dương khuyến cáo người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh sán máng, một bệnh lây truyền qua nước có nguy cơ gây tổn thương mạn tính nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
Hạn chế tiếp xúc với nguồn nước ao, hồ, sông, suối không đảm bảo vệ sinh.
Không tắm, bơi lội hoặc lao động chân tay trần tại khu vực nghi ngờ có mầm bệnh.
Ăn chín, uống sôi, tuyệt đối không ăn thực phẩm tái, sống.
Giữ gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
Sử dụng nguồn nước sạch trong sinh hoạt.
Chủ động khám và xét nghiệm ký sinh trùng khi có biểu hiện nghi ngờ.
Người từng sinh sống, lao động hoặc du lịch tại vùng nguy cơ cao nên khám sức khỏe định kỳ.
Tác hại khi bị nhiễm sán máng
Nhiễm sán máng mạn tính có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: Hệ tiêu hóa: thiếu máu, đau bụng, tiêu chảy, phân lẫn máu; Hệ tiết niệu: tiểu rắt, tiểu nhiều lần, nước tiểu lẫn máu; Tim – phổi: ho kéo dài, khó thở, ho ra máu; Hệ thần kinh như đau đầu, co giật, yếu liệt, tê bì tay chân, chóng mặt.