Sức khoẻ 360

Sốt kéo dài không đáp ứng điều trị, dấu hiệu cảnh báo bệnh tự miễn hiếm gặp

Việc nhận biết các biểu hiện viêm hệ thống kéo dài, không đáp ứng thuốc, giúp chẩn đoán đúng bệnh tự miễn hiếm gặp như lupus do thuốc.

Sốt kéo dài có thể là dấu hiệu của bệnh tự miễn hiếm gặp

Sốt là triệu chứng rất thường gặp trong lâm sàng và phần lớn liên quan đến nhiễm trùng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp hiếm gặp, sốt lại là biểu hiện mờ nhạt của những bệnh lý tự miễn khó chẩn đoán.

Khoảng 1 tuần trước nhập viện, ông Đ.C.L. (68 tuổi, Hải Phòng) xuất hiện tình trạng đau khớp mức độ nhiều, đau dọc các xương dài. Kèm theo đau vùng cổ - gáy lan xuống hai vai, không rõ có sốt trong giai đoạn này.

Ngày đến Bệnh viện Đa khoa Medlatec để thăm khám và điều trị, bệnh nhân xuất hiện sốt cao kèm rét run, đau nhiều.

Bệnh nhân có tiền sử ung thư dạ dày năm 2018, đã phẫu thuật cắt 4/5 dạ dày và tái khám định kỳ, hiện ổn định. Ngoài ra, ông L. còn mắc tăng huyết áp và đái tháo đường type 2, điều trị duy trì nhiều năm bằng Panfor SR 1000 mg và Lisinopril 20 mg.

Đáng chú ý, trong khoảng một tuần trước nhập viện, bệnh nhân có sử dụng thêm nhiều thuốc điều trị triệu chứng khác. Sự hiện diện của nhiều bệnh nền và tiền sử dùng thuốc kéo dài khiến việc phân biệt giữa nhiễm trùng - biến chứng bệnh nền - tác dụng phụ của thuốc trở nên phức tạp hơn.

Xét nghiệm cho thấy bạch cầu tăng cao (23,07 G/L) và CRP tăng rất cao (295,88 mg/L) - gợi ý tình trạng viêm mạnh. Tuy nhiên, cấy máu âm tính, siêu âm tim và nội soi tiêu hóa trên không phát hiện bất thường, loại trừ phần lớn nguyên nhân nhiễm trùng huyết hay biến chứng ung thư.

Hình ảnh MRI toàn thân chủ yếu ghi nhận các thay đổi thoái hóa cột sống cổ và thắt lưng, phù cơ và mô mềm, không phát hiện tổn thương nhiễm trùng hay khối u đặc hiệu, không đủ để giải thích tình trạng sốt cao kéo dài và phản ứng viêm mạnh của bệnh nhân.

Bệnh nhân được chẩn đoán ban đầu là tình trạng nhiễm khuẩn chưa rõ ổ, kèm thoát vị đĩa đệm cột sống và được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng cùng thuốc giảm đau, chống viêm.

Tuy nhiên, sau 3 ngày điều trị, bệnh nhân vẫn sốt cao liên tục, đau mỏi cơ toàn thân không cải thiện, trong khi toàn bộ các xét nghiệm tìm căn nguyên nhiễm trùng đều âm tính. Đây là yếu tố then chốt giúp các bác sĩ phải đặt lại vấn đề chẩn đoán, chuyển hướng sang các bệnh lý viêm - tự miễn không do nhiễm trùng.

Sau hội chẩn chuyên môn với PGS. Nguyễn Văn Đoàn - Chuyên gia Dị ứng, Hệ thống Y tế Medlatec, nguyên Giám đốc Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Trường Đại học Y Hà Nội, bệnh nhân được chẩn đoán xác định lupus do thuốc liên quan đến Lisinopril.

Chẩn đoán được đưa ra dựa trên chuỗi lập luận chặt chẽ: biểu hiện viêm hệ thống kéo dài không đặc hiệu, không tìm thấy ổ nhiễm trùng, không đáp ứng kháng sinh, tiền sử sử dụng Lisinopril kéo dài và đặc biệt là đáp ứng nhanh sau khi ngừng thuốc nghi ngờ.

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định lupus do thuốc liên quan đến Lisinopril. Ảnh BV

Sau khi áp dụng phác đồ điều trị, bệnh nhân hết sốt nhanh chóng, giảm đau rõ rệt, tình trạng toàn thân cải thiện tốt và được xuất viện.

ThS.BS Nguyễn Thị Ngọc - Chuyên khoa Nội, Bệnh viện Đa khoa Medlatec trực tiếp điều trị trường hợp này cho biết, lupus do thuốc là một hội chứng tự miễn giống lupus, chỉ xảy ra ở một số cá thể nhạy cảm sau khi tiếp xúc với thuốc và được xem là một dạng tác dụng không mong muốn của thuốc. Bệnh thường khởi phát sau vài tháng đến vài năm sử dụng, hiếm khi xuất hiện đột ngột ngay sau khi dùng thuốc.

So với lupus ban đỏ hệ thống tự phát, lupus do thuốc thường gặp ở người lớn tuổi, đặc biệt trên 50 tuổi, trong khi lupus ban đỏ hệ thống chủ yếu ảnh hưởng đến người trẻ. Về mặt lâm sàng, lupus do thuốc có thể gây ra các triệu chứng tương tự như lupus ban đỏ hệ thống, bao gồm sốt, đau khớp, đau cơ và các biểu hiện viêm toàn thân, tuy nhiên ít khi gây tổn thương nội tạng nặng hoặc các biến chứng đe dọa tính mạng.

Hầu hết các tài liệu y khoa hiện nay đều xếp Lisinopril vào nhóm thuốc có nguy cơ rất thấp gây lupus do thuốc. Tuy vậy, trên thực tế vẫn đã ghi nhận một số trường hợp hiếm gặp liên quan đến tình trạng này. Bên cạnh đó, các tổ chức uy tín như Lupus Foundation of America và DermNet NZ cũng đã liệt kê nhóm thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitors) bao gồm Lisinopril, Captopril và Enalapril trong danh mục những thuốc có khả năng gây lupus do thuốc. Mặc dù nguy cơ thấp, những dẫn chứng này cho thấy việc đánh giá lại thuốc đang sử dụng là cần thiết khi gặp các trường hợp viêm hệ thống kéo dài không rõ nguyên nhân, đặc biệt ở người bệnh cao tuổi dùng thuốc lâu năm.

Lisinopril thuộc danh mục những thuốc có khả năng gây lupus do thuốc. Ảnh minh họa. Nguồn Internet

Từ trường hợp trên, bác sĩ khuyến cáo, người dân không nên chủ quan với các triệu chứng sốt kéo dài, đau khớp, đau cơ toàn thân, nhất là khi các biểu hiện này không đáp ứng với điều trị thông thường hoặc không tìm thấy nguyên nhân nhiễm trùng rõ ràng.

Đặc biệt, đối với những người cao tuổi, có nhiều bệnh nền và đang sử dụng thuốc điều trị mạn tính kéo dài, việc theo dõi sát các biểu hiện bất thường và tái khám định kỳ là vô cùng quan trọng. Người bệnh không tự ý dùng hoặc ngừng thuốc, mà cần trao đổi với bác sĩ khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc.

Bệnh miễn dịch rất đa dạng

Bệnh tự miễn là tình trạng hệ miễn dịch trong cơ thể rối loạn hoặc hoạt động quá mức. Lúc này hệ thống miễn dịch không thể phân biệt giữa tế bào hoặc mô khỏe và tế bào, kháng nguyên có khả năng gây hại mà tấn công một cách không có chủ đích.

Tùy thuộc vào hệ cơ quan mà hệ thống miễn dịch tấn công sẽ gây ra các bệnh lý tương ứng. Bệnh miễn dịch rất đa dạng (đã ghi nhận có hơn 100 bệnh), có những bệnh chỉ đơn giản là một bệnh lý như tiểu đường type 1 nhưng có những rối loạn miễn dịch sẽ gây ra bệnh hệ thống ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể như Lupus ban đỏ. Do vậy người bệnh sẽ luôn cần sự chăm sóc y tế đặc biệt.

Vẫn chưa có một nghiên cứu nào chứng minh được căn nguyên gây ra bệnh tự miễn. Các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu về các nguyên nhân lớn như sự suy giảm của dung nạp miễn dịch (tức cơ thể mất đi khả năng tự loại bỏ các yếu tố miễn dịch tấn công cơ thể) hay sự bắt chước của các phân tử tế bào.

Một số yếu tố sau được đánh giá là yếu tố nguy cơ cao gây ra bệnh như: Gen: một số bệnh có tính chất di truyền.Có bệnh lý nền là một bệnh tự miễn dịch; Cơ thể phơi nhiễm với hóa chất và tia xạ; Giới tính nữ: chiếm 80% tỷ lệ người mắc bệnh tự miễn; Một số loại thuốc: các tác dụng không mong muốn của thuốc kháng sinh, thuốc điều trị huyết áp, thuốc điều trị mỡ máu loại statin...; Có một số tình trạng như béo phì, hút thuốc lá nhiều năm, nhiễm trùng.

back to top