Sức khoẻ 360

Quản lý nhiễm trùng ở bệnh nhân đa u tủy xương tránh tử vong

Đa u tủy xương một bệnh lý huyết học ác tính dẫn tới rối loạn miễn dịch, tổn thương cơ quan, tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng và tử vong.

Bất thường trong tủy xương gây rối loạn miễn dịch tăng nguy cơ nhiễm trùng

Đa u tủy xương (Multiple Myeloma – MM) là một bệnh lý huyết học ác tính đặc trưng bởi sự tăng sinh tương bào bất thường trong tủy xương, dẫn tới rối loạn miễn dịch, giảm sản xuất globulin miễn dịch chức năng và tổn thương cơ quan. Những bất thường này làm bệnh nhân giảm khả năng đáp ứng miễn dịch, tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng và tử vong.

Nhiễm trùng là mối lo ngại lớn ở bệnh nhân đa u tủy xương. Nguy cơ nhiễm trùng cao nhất trong vòng 3 tháng đầu sau chẩn đoán và trong quá trình điều trị, có thể tăng cao trở lại trong trường hợp tái phát và suy giảm miễn dịch nghiêm trọng.

Chính vì vậy việc phòng ngừa đóng vai trò vô cùng quan trọng. Là một trong những cơ sở uy tín hàng đầu trong chuyên ngành khám và điều trị các bệnh lý về máu và tế bào gốc tạo máu, Khoa Huyết học Lâm sàng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Bệnh viện TWQĐ 108) thường xuyên giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh các biện pháp phòng ngừa nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

da-u-tuy-xuong-copy.jpg
Tế bào tủy xương bình thường và bị bệnh - Ảnh BVCC

Nguy cơ nhiễm trùng ở bệnh nhân đa u tủy xương

Bệnh nhân mắc đa u tủy xương có nguy cơ nhiễm trùng cao do nhiều yếu tố:

Suy giảm miễn dịch: Tình trạng suy giảm các globulin miễn dịch bình thường trong huyết thanh, bao gồm IgG, IgA, IgM, làm suy yếu hệ miễn dịch tự nhiên của cơ thể, khiến khả năng nhận diện và tiêu diệt các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus bị giảm sút, từ đó làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, đặc biệt nhiễm trùng tái diễn.

Liệu pháp điều trị: Nhiều thuốc trị đa u tủy xương như proteasome inhibitors, glucocorticoids, kháng thể đơn dòng (anti-CD38) gây ức chế miễn dịch sâu.

Tuổi cao và bệnh lý đi kèm: Bệnh nhân lớn tuổi thường có miễn dịch kém kèm theo các bệnh lý mạn tính đi kèm làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nặng.

Tình trạng nhiễm trùng thường gặp: Bệnh nhân mắc đa u tủy xương thường bị nhiễm trùng do vi khuẩn và virus, chủ yếu ảnh hưởng đến hệ hô hấp (viêm phổi, viêm phế quản) và đường tiết niệu.

Một số tác nhân gây bệnh như:

Vi khuẩn: Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Staphylococcus aureus, Escherichia coli (E. coli).

Virus: Cúm, zona thần kinh (Herpes Zoster), virus hợp bào hô hấp (RSV), virus Herpes Simplex (HSV), virus Epstein-Barr (EBV).

Nhiễm trùng nấm: nhiễm nấm candida miệng.

da-u-1.jpg
Hướng dẫn bệnh nhân đa u tủy xương tránh nhiễm trùng - Ảnh BVCC

Chủ động tiêm chủng để nâng cao sức đề kháng

Ngoài việc điều trị dự phòng thuốc kháng sinh, kháng virus thì việc tiêm chủng là một trong những biện pháp quan trọng để giảm nguy cơ nhiễm trùng ở bệnh nhân mắc đa u tủy xương.

Một vài nguyên tắc chung mà người bệnh cần lưu ý:

Tiêm vắc-xin trước khi bắt đầu điều trị nếu có thể hoặc khi tình trạng bệnh ổn định.

Tránh tiêm vắc-xin sống như BCG, vắc-xin sống giảm độc lực (ví dụ: vắc-xin sống cúm dạng xịt mũi) vì nguy cơ gây bệnh.

Cân nhắc đánh giá đáp ứng miễn dịch sau tiêm chủng nếu có thể (đặc biệt với vắc-xin pneumococcal và COVID-19) vì đáp ứng có thể kém hơn so với người bình thường.

Người bệnh nên tiêm chủng theo bệnh lý cụ thể như:

Cúm: Vắc-xin bất hoạt (trivalent hoặc quadrivalent) cho tất cả bệnh nhân mỗi năm; Có thể dùng loại liều cao cho người lớn tuổi (> 65 tuổi). Khuyến cáo tiêm cho cả người thân tiếp xúc gần và nhân viên chăm sóc để tạo hàng rào miễn dịch.

Phế cầu (Streptococcus pneumoniae): Khởi đầu bằng vắc-xin PCV13/PCV15, sau đó ≥8 tuần hoặc 6–12 tháng sau là PPSV23. Có thể lặp lại PPSV23 sau vài năm nếu cần thiết.

Zona (Herpes zoster): Vắc-xin tái tổ hợp recombinant zoster vaccine (Shingrix®): ưu tiên cho bệnh nhân đa u tủy xương ở mọi độ tuổi ≥18, 2 liều cách nhau 2–6 tháng; Vắc-xin sống (Zostavax®) chỉ dùng trường hợp không có vắc-xin tái tổ hợp sẵn (hiếm gặp) nhưng không ưu tiên.

SARS-CoV-2 (COVID-19): Vắc-xin mRNA hoặc protein bất hoạt, việc tiêm nhắc lại định kỳ được khuyến cáo. Các chuyên gia khuyến cáo nên tiêm 3 liều chính và ít nhất một liều nhắc lại 4–6 tháng sau liều thứ 2.

Viêm gan A, B: Viêm gan A cho bệnh nhân đến vùng có dịch. Viêm gan B, tiêm nếu âm tính với HBsAg/anti-HBs, có thể cần liều bổ sung nếu đáp ứng miễn dịch kém.

Hib, não mô cầu, bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà: Hib (Haemophilus influenzae type b) và não mô cầu: cân nhắc trong trường hợp bệnh nhân thiếu lách. Tiêm 1 liều.

Bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà: bệnh nhân chưa tiêm vắc-xin DTP cơ bản hoặc chưa tiêm liều tăng cường vắc-xin uốn ván và bạch hầu. Tiêm 3 liều, vắc-xin uốn ván nhắc lại mỗi 10 năm.

Tiêm chủng đối với bệnh nhân sau ghép tế bào gốc: Sau khi ghép tế bào gốc, bệnh nhân có nồng độ kháng thể chống lại các tác nhân gây bệnh thông thường giảm và nguy cơ tái hoạt động virus tăng lên.

Đối với hầu hết các tác nhân gây bệnh cần tiêm nhắc lại sau mỗi 4 tuần. Nên tiêm hầu hết các loại vắc-xin bất hoạt trong vòng 6-12 tháng sau khi ghép tế bào gốc. Không nên tiêm vắc-xin sống giảm độc lực trong vòng 2 năm đầu sau ghép.

Thời điểm tiêm chủng: Nên tiêm chủng ≥2 tuần trước khi bắt đầu hóa trị; 3-6 tháng sau khi hoàn thành hóa trị hoặc ghép tế bào gốc tự thân; Tiêm chủng 6-24 tháng sau khi hoàn thành ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại; Không tiêm vắc-xin trước và ≥3 tháng sau khi điều trị bằng globulin miễn dịch tĩnh mạch

Phối hợp với lối sống lành mạnh và kiểm soát nhiễm trùng

Đảm bảo ăn chín uống sôi, tránh tiếp xúc gần với bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm (lao, cúm, covid-19,…).

Rửa tay thường xuyên.

Điều trị kịp thời khi nghi ngờ nhiễm trùng (sốt, ho, đau họng).

Đánh giá và tiêm chủng cho người thân gần và nhân viên y tế.

Quản lý nhiễm trùng ở bệnh nhân đa u tủy xương là một phần không thể tách rời trong việc chăm sóc toàn diện người bệnh. Việc kết hợp dự phòng kháng sinh, kháng virus, tiêm chủng đúng loại, đúng thời điểm, theo dõi lâm sàng và tư vấn bệnh nhân – người chăm sóc là nền tảng để giảm nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân đa u tủy xương.

BS Nguyễn Thị Thùy Trang (Khoa Huyết học Lâm sàng, Bệnh viện TƯQĐ 108)

back to top