Sau vụ việc bất thường về kết quả môn Toán tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 ở Tuyên Quang, tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh đề xuất nghiên cứu tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Đề xuất này ngay lập tức thu hút sự quan tâm từ dư luận.
PV Tri thức và Cuộc sống đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Thị Việt Nga - Ủy viên thuộc Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội xung quanh đề xuất trên.
Tách theo mô hình nào để không tăng áp lực, chi phí và bất bình đẳng cho người học
- Trước đề xuất nghiên cứu tách kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, bà có suy nghĩ thế nào?
Tôi đồng tình với định hướng tách dần chức năng xét tốt nghiệp THPT khỏi chức năng tuyển sinh đại học, nhưng không đồng tình với việc quay lại một cách cơ học mô hình hai kỳ thi quốc gia quy mô lớn như trước đây.
Pháp luật yêu cầu đánh giá, công nhận việc hoàn thành chương trình phổ thông, nhưng không bắt buộc kết quả của kỳ thi tốt nghiệp phải đồng thời được sử dụng để tuyển sinh đại học. Trong khi đó, pháp luật về giáo dục đại học và quy chế tuyển sinh trao quyền tự chủ ngày càng lớn cho các cơ sở đào tạo. Theo Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026, các trường có thể sử dụng thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp các phương thức theo đề án tuyển sinh được công khai.
Do đó, về phương diện pháp lý, hoàn toàn có thể thiết kế một cơ chế đánh giá, công nhận tốt nghiệp THPT; một hoặc nhiều phương thức tuyển sinh đại học độc lập. Vấn đề cần cân nhắc không phải là “có được tách hay không”, mà là tách theo mô hình nào để không làm tăng áp lực, chi phí và bất bình đẳng cho người học.
- Cùng với phương án tiếp tục sử dụng kỳ thi tốt nghiệp THPT cho cả xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, hiện có đề xuất thêm phương án tách kỳ thi tốt nghiệp và kỳ thi tuyển sinh đại học và phương án không tổ chức kỳ thi tốt nghiệp quốc gia, giao trường phổ thông xét tốt nghiệp, bà có thể phân tích ưu, nhược điểm của các phương án? Theo bà, phương án nào là tối ưu?
Phương án thứ nhất là tiếp tục sử dụng kỳ thi tốt nghiệp THPT cho cả xét tốt nghiệp và tuyển sinh đại học.
Về ưu điểm, phương án này giúp giảm số lần thi và chi phí xã hội. Học sinh thi tại địa phương, không phải đồng loạt di chuyển đến các thành phố lớn như thời kỳ thi đại học theo khối.
Cùng với đó, tạo ra một bộ dữ liệu tương đối thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Trong điều kiện chất lượng giáo dục, cách cho điểm học bạ và điều kiện tổ chức dạy học giữa các trường, các địa phương còn khác nhau, một kỳ thi chung vẫn có giá trị tham chiếu nhất định.
Ngoài ra phương án trên cũng tạo thuận lợi cho những trường đại học không đủ nguồn lực tổ chức kỳ thi riêng cũng như tạo cơ hội dự tuyển rộng, tránh phải thi nhiều lần.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của phương án này là một đề thi phải phục vụ hai mục tiêu có tính chất khác nhau. Một đề thi vừa bảo đảm yêu cầu cơ bản để xét tốt nghiệp, vừa phải phân loại chính xác thí sinh là một yêu cầu rất khó.
Phương án thứ hai tách kỳ thi tốt nghiệp và kỳ thi tuyển sinh đại học có ưu điểm mỗi kỳ thi có thể được thiết kế đúng mục tiêu. Đề thi không phải “gồng mình” phân hóa đến từng phần nhỏ của điểm số ở nhóm thí sinh xuất sắc. Kỳ thi tuyển sinh có thể tập trung đo lường tư duy, khả năng vận dụng, năng lực giải quyết vấn đề hoặc năng lực chuyên biệt phù hợp với từng nhóm ngành.
Ưu điểm thứ hai của phương án này là thực hiện rõ hơn quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các trường đại học. Trường tuyển người học thì phải xác định tiêu chí đầu vào phù hợp với chương trình đào tạo của mình, thay vì phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một kỳ thi phổ thông.
Thứ ba, giảm mức độ rủi ro tập trung. Một sự cố trong kỳ thi tốt nghiệp không nhất thiết quyết định toàn bộ cơ hội vào đại học; ngược lại, kết quả một kỳ thi tuyển sinh cũng không ảnh hưởng đến việc học sinh có được công nhận tốt nghiệp hay không.
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới tuyển sinh theo đặc thù ngành. Có ngành cần tư duy toán học, có ngành cần năng lực ngôn ngữ, có ngành cần năng khiếu, phẩm chất nghề nghiệp hoặc khả năng xử lý tình huống.
Tuy nhiên, phương án này cũng có hạn chế. Nếu hiểu “tách” là khôi phục một kỳ thi tốt nghiệp quốc gia và sau đó tổ chức thêm một kỳ thi đại học quốc gia, thí sinh sẽ phải chịu hai lần áp lực lớn liên tiếp.
Ngoài ra còn có nguy cơ tái diễn tình trạng “luyện thi đại học” nặng nề. Vì vậy, tách mục tiêu là hợp lý, nhưng tách thành hàng trăm kỳ thi riêng lẻ hoặc khôi phục nguyên trạng mô hình trước năm 2015 thì chưa chắc tiến bộ.
Phương án thứ ba không tổ chức kỳ thi tốt nghiệp quốc gia, giao trường phổ thông xét tốt nghiệp, tôi cho rằng cũng cần được đặt lên bàn cân.
Ưu điểm của phương án này là việc công nhận tốt nghiệp có thể dựa trên quá trình học tập, đánh giá thường xuyên, kết quả các môn học và bài kiểm tra cuối cấp do địa phương hoặc nhà trường tổ chức. Điều này giảm áp lực của một kỳ thi quốc gia và phù hợp với quan điểm đánh giá năng lực người học trong cả quá trình. Nhà nước có thể chuyển từ “trực tiếp thi tất cả học sinh” sang kiểm định chất lượng bằng khảo sát mẫu, đánh giá diện rộng hoặc thanh tra, kiểm tra.
Tuy nhiên, điều kiện hiện nay chưa bảo đảm rằng việc đánh giá học sinh, chất lượng học bạ và mức độ nghiêm túc giữa tất cả các trường hoàn toàn đồng đều. Nếu giao toàn bộ quyền xét tốt nghiệp cho nhà trường mà thiếu cơ chế kiểm định độc lập, có thể phát sinh các vấn đề như: tình trạng nới lỏng đánh giá để nâng tỷ lệ tốt nghiệp; chênh lệch chuẩn đánh giá giữa các địa phương; giảm độ tin cậy của bằng tốt nghiệp và học bạ; khó có dữ liệu quốc gia để đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông. Do đó, việc giao trường xét tốt nghiệp chỉ nên thực hiện khi đã có hệ thống bảo đảm chất lượng, kiểm định và dữ liệu học tập đủ tin cậy.
Theo tôi về dài hạn nên đi theo hướng tách rõ chức năng tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, nhưng không nhất thiết tổ chức hai kỳ thi quốc gia độc lập, nặng nề và bắt buộc đối với mọi học sinh. Mô hình phù hợp có thể gồm ba tầng:
Một là, kỳ thi tốt nghiệp THPT được tinh gọn, tập trung đánh giá chuẩn đầu ra phổ thông, giữ vai trò kiểm soát chất lượng ở cấp quốc gia trong giai đoạn hiện nay. Kết quả thi vẫn có thể được công khai để trường đại học tham khảo, nhưng không nên đặt lên kỳ thi này trách nhiệm phải phân loại chính xác mọi thí sinh cho tất cả các ngành học.
Hai là, tuyển sinh đại học thuộc trách nhiệm tự chủ của các cơ sở đào tạo. Các trường có thể sử dụng kết quả thi tốt nghiệp, học bạ đã được chuẩn hóa, kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, thi năng khiếu hoặc kết hợp nhiều tiêu chí.
Ba là, hạn chế tình trạng mỗi trường tổ chức một kỳ thi. Có thể phát triển một số kỳ thi chuẩn hóa dùng chung theo vùng hoặc theo nhóm ngành, do các đại học, nhóm trường phối hợp tổ chức, có nhiều đợt thi và nhiều địa điểm thi trên cả nước. Kết quả được nhiều cơ sở đào tạo công nhận, tương tự một dịch vụ khảo thí độc lập, thay vì biến mỗi trường thành một “ốc đảo tuyển sinh”.
Theo tôi cần có những điều kiện phải có trước khi tách. Bởi việc thay đổi cần có lộ trình, không nên thực hiện đột ngột. Các điều kiện cần đáp ứng gồm ổn định chương trình, phương thức đánh giá và quy chế trong nhiều năm, công bố sớm để học sinh không trở thành đối tượng thử nghiệm. Chuẩn hóa dữ liệu học bạ, kiểm soát chênh lệch trong đánh giá giữa các trường, các địa phương. Xây dựng các trung tâm khảo thí chuyên nghiệp, độc lập, có ngân hàng câu hỏi đủ lớn và quy trình bảo mật, chấm thi, phúc khảo minh bạch. Bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng, tổ chức nhiều điểm thi, miễn hoặc giảm lệ phí cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, không để thí sinh vùng xa phải đi lại quá nhiều. Quản lý số lượng phương thức tuyển sinh, tránh tình trạng một trường đưa ra quá nhiều phương thức, nhiều công thức quy đổi khiến học sinh và xã hội khó theo dõi.
Theo tôi, mục tiêu cuối cùng không phải là tổ chức một kỳ thi hay hai kỳ thi, mà là xây dựng được một cơ chế đánh giá đúng năng lực, ít tốn kém, giảm áp lực, bảo đảm công bằng và tuyển chọn được người học phù hợp.
Tránh quy toàn bộ nguyên nhân của tiêu cực cho mô hình kỳ thi “2 trong 1”
-Vụ việc điểm thi môn Toán bất thường tại Trường THPT chuyên Tuyên Quang, nhiều ý kiến cho rằng có một phần nguyên nhân từ kỳ thi “2 trong 1”. Bà nhìn nhận về điều này?
Nhận định này có cơ sở nhất định, nhưng cần được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện, tránh quy toàn bộ nguyên nhân của tiêu cực cho mô hình kỳ thi “2 trong 1”.
Trước hết, cần khẳng định rằng, mô hình “2 trong 1” không tự nó sinh ra gian lận. Gian lận xảy ra trước hết do con người cố tình vi phạm quy chế, do trách nhiệm thực thi không nghiêm, cơ chế kiểm soát chưa hiệu quả hoặc có sự cấu kết giữa những người được giao nhiệm vụ. Quy chế thi đã quy định khá chặt chẽ trách nhiệm của ban chỉ đạo thi, hội đồng thi, trưởng điểm thi, cán bộ coi thi, thanh tra, công an và các lực lượng liên quan. Nếu mọi cá nhân thực hiện đúng trách nhiệm, tôn trọng pháp luật và giữ gìn đạo đức nghề nghiệp thì rất khó xảy ra vi phạm có tổ chức.
Đối với vụ việc tại Điểm thi Trường THPT chuyên Tuyên Quang, các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi vi phạm, đối tượng liên quan và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Vì vậy, chúng ta cần căn cứ vào kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền, không suy đoán hoặc quy kết khi vụ việc chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Yêu cầu xuyên suốt của Chính phủ là xử lý nghiêm sai phạm, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thí sinh, bảo đảm công bằng trong tuyển sinh đại học, cao đẳng.
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, việc sử dụng kết quả của một kỳ thi cho nhiều mục tiêu đã làm cho giá trị của từng điểm số trở nên rất lớn.
Khi một phần nhỏ của điểm số có thể làm thay đổi thứ tự xét tuyển, tác động đến cơ hội học tập và tương lai của thí sinh, áp lực thành tích và động cơ can thiệp vào kết quả cũng có thể gia tăng.
Từ đó, tôi cho rằng chúng ta cần phân biệt rõ hai vấn đề. Một mặt, phải xử lý nghiêm trách nhiệm của những người vi phạm; không thể lấy bất cập của mô hình thi để biện minh cho hành vi gian lận. Mặt khác, cũng cần tiếp tục nghiên cứu cải cách cơ chế thi và tuyển sinh, từng bước tách rõ chức năng đánh giá việc hoàn thành chương trình phổ thông với chức năng tuyển chọn đầu vào đại học.
Để có được một kỳ thi thực chất, công bằng, minh bạch
-Theo bà, đâu là những giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới để có được một kỳ thi thực chất, công bằng, minh bạch, bảo đảm quyền lợi cho học sinh?
Theo tôi, để có một kỳ thi thực chất, công bằng và minh bạch, không thể chỉ tập trung vào việc sửa một vài quy định kỹ thuật. Cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ thiết kế kỳ thi, tổ chức thực hiện, giám sát, ứng dụng công nghệ đến xử lý trách nhiệm.
Trước hết, phải tiếp tục xác định rõ mục tiêu của kỳ thi từ đó thiết kế đề thi phù hợp, giảm áp lực không cần thiết và hạn chế tình trạng dạy học bị chi phối quá mức bởi luyện thi.
Thứ hai, cần rà soát toàn bộ quy trình tổ chức thi theo nguyên tắc không để một cá nhân hoặc một nhóm người có khả năng chi phối một khâu quan trọng.
Thứ ba, phải nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra. Cần tăng cường các đoàn kiểm tra độc lập, kiểm tra đột xuất và cơ chế giám sát chéo giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, địa phương, lực lượng công an và các cơ quan liên quan.
Thứ tư, cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ để phòng ngừa và phát hiện gian lận. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống phân tích dữ liệu thi trên phạm vi toàn quốc để tự động cảnh báo những dấu hiệu bất thường như tỷ lệ điểm cao đột biến, nhiều bài thi có mô hình đáp án giống nhau bất thường hoặc kết quả thi chênh lệch lớn với quá trình học tập.
Thứ năm, phải thiết lập cơ chế tiếp nhận và bảo vệ người phản ánh tiêu cực.
Thứ sáu, cần xử lý trách nhiệm thật nghiêm minh, kịp thời và công khai. Người làm nhiệm vụ thi phải nhận thức rõ rằng gian lận thi cử không chỉ là vi phạm quy chế hành chính mà còn xâm phạm quyền học tập, quyền cạnh tranh công bằng của hàng nghìn thí sinh khác và làm tổn hại niềm tin xã hội. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải áp dụng đầy đủ trách nhiệm kỷ luật, hành chính hoặc hình sự; đồng thời xem xét trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra sai phạm nghiêm trọng trong phạm vi quản lý.
Thứ bảy, mọi phương án khắc phục hậu quả phải đặt quyền lợi hợp pháp của học sinh ở vị trí trung tâm. Cần phân loại rõ thí sinh trực tiếp tham gia gian lận, thí sinh biết nhưng đồng tình, người được hưởng lợi mà không biết có vi phạm và những học sinh hoàn toàn không liên quan. Không thể xử lý đồng loạt, giản đơn, bởi điều đó có thể gây thêm bất công cho những em chấp hành nghiêm túc quy chế.
Nguyên tắc phải là: sai phạm đến đâu, xử lý đến đó; trách nhiệm cá nhân phải được cá thể hóa; không để người vi phạm được hưởng lợi nhưng cũng không để học sinh vô can phải gánh chịu hậu quả từ hành vi sai trái của người lớn. Việc xử lý cũng phải kịp thời để không làm mất cơ hội đăng ký xét tuyển, nhập học của thí sinh. Đây cũng là yêu cầu đã được Chính phủ đặt ra trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tuyên Quang.
Xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Việt Nga về cuộc trao đổi trên!
>>> Mời độc giả xem thêm video Ngày hội non sông: