Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, Thượng tá, TS, chuyên gia tội phạm học Đào Trung Hiếu cho hay, đúng 20 năm sau vụ tiêu cực thi cử tại Hội đồng thi Phú Xuyên A làm rung chuyển ngành giáo dục và mở đầu cho cuộc vận động “Hai không”, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 lại trở thành tâm điểm của dư luận khi cơ quan điều tra vào cuộc xác minh những dấu hiệu vi phạm tại Tuyên Quang.
20 năm, nhiều quy chế đã được sửa đổi, nhiều giải pháp công nghệ đã được áp dụng và tính liêm chính của hoạt động khảo thí từng bước được nâng lên. Nhưng nếu tiêu cực vẫn liên tục biến đổi sau mỗi cuộc cải cách, điều cần đổi mới lúc này không chỉ là kỹ thuật tổ chức thi, mà còn là tư duy thiết kế hệ thống khảo thí quốc gia.
Đã đến lúc đổi mới tư duy khảo thí
TS Đào Trung Hiếu cho hay, trong quản trị công, một nguyên tắc quan trọng là nơi nào lợi ích cùng hội tụ thì nơi đó phải có một thiết kế thể chế đủ hợp lý để phân tán áp lực và kiểm soát quyền lực. Ngược lại, nếu quá nhiều mục tiêu, quá nhiều lợi ích và quá nhiều kỳ vọng cùng được đặt lên một thiết chế duy nhất thì bản thân thiết chế ấy sẽ phải vận hành trong tình trạng quá tải. Nhìn dưới góc độ này, kỳ thi tốt nghiệp THPT ở Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Về bản chất, kỳ thi tốt nghiệp chỉ nhằm xác nhận người học đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông và đạt chuẩn đầu ra theo quy định của Nhà nước sau 12 năm học tập.
Nhưng trên thực tế, kỳ thi ấy còn đồng thời gánh nhiều sứ mệnh khác. Kết quả thi trở thành căn cứ quan trọng để tuyển sinh đại học; trở thành chỉ báo phản ánh chất lượng giáo dục của từng địa phương; ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của nhà trường; chi phối kỳ vọng của phụ huynh; đồng thời quyết định cơ hội học tập của hàng trăm nghìn học sinh.
“Khi quá nhiều lợi ích cùng hội tụ vào một kỳ thi, áp lực đối với hoạt động khảo thí không còn đơn thuần là áp lực chuyên môn mà đã trở thành áp lực của cả hệ thống”, ông Hiếu cho hay.
Theo TS Đào Trung Hiếu, bản thân từng mục tiêu nói trên đều hợp lý nếu được xem xét độc lập. Vấn đề chỉ xuất hiện khi tất cả những mục tiêu ấy đều được kỳ vọng giải quyết thông qua một kỳ thi duy nhất.
Chuỗi vụ việc từ Phú Xuyên A, Đồi Ngô, Hà Giang đến Tuyên Quang dường như không chỉ phản ánh những lỗ hổng của từng quy trình tổ chức thi, mà còn phản ánh sức ép ngày càng lớn đang dồn lên một thiết chế phải gánh quá nhiều kỳ vọng.
Thủ đoạn gian lận thay đổi theo từng thời kỳ, nhưng áp lực phải đạt điểm cao, phải duy trì thành tích, phải có tỷ lệ đỗ đại học cao và phải đáp ứng những kỳ vọng xã hội gần như không thay đổi và đang cùng hội tụ vào một kỳ thi.
Đó là lý do vì sao sau mỗi lần hoàn thiện quy chế, tiêu cực vẫn có thể xuất hiện dưới một hình thức mới.
Chúng ta đã đầu tư rất nhiều cho việc gia cố từng mắt xích của quy trình khảo thí, nhưng chưa dành sự quan tâm tương xứng cho việc giảm áp lực đang đặt lên chính kỳ thi. Trong khi quy chế luôn được thiết kế để xử lý hành vi vi phạm thì áp lực lại là yếu tố âm thầm tạo ra động cơ vi phạm.
Nếu không nhận diện được mối quan hệ đó, rất có thể cuộc cải cách sẽ vẫn tiếp tục đi theo lối mòn quen thuộc: sửa quy chế sau mỗi vụ việc, trong khi nguyên nhân mang tính cấu trúc vẫn còn nguyên.
“Chính từ góc nhìn ấy, sau 20 năm chống gian lận thi cử, có lẽ đã đến lúc cuộc thảo luận cần được dịch chuyển từ câu hỏi “làm thế nào để tổ chức một kỳ thi chặt chẽ hơn?” sang câu hỏi “làm thế nào để thiết kế một hệ thống khảo thí tạo ra ít áp lực hơn nhưng vẫn bảo đảm chất lượng đánh giá?”. Hai câu hỏi này tưởng giống nhau nhưng thực chất phản ánh hai cấp độ cải cách hoàn toàn khác nhau. Một bên là hoàn thiện kỹ thuật quản lý; bên kia là đổi mới tư duy quản trị”, ông Hiếu phân tích.
Kinh nghiệm quốc tế: Mỗi kỳ thi chỉ phục vụ một mục tiêu
Theo TS Đào Trung Hiếu, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rất ít quốc gia giao đồng thời cho một kỳ thi hai nhiệm vụ là công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học. Dù có mô hình khác nhau, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản hay Phần Lan đều tách bạch hai mục tiêu này bằng các cơ chế đánh giá riêng, coi trọng quá trình học tập và tăng quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học, qua đó giảm áp lực và hạn chế tiêu cực phát sinh từ một kỳ thi duy nhất.
Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ, không tồn tại một kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông mang tính quốc gia. Học sinh được cấp bằng tốt nghiệp khi hoàn thành các tín chỉ học tập và đáp ứng chuẩn đầu ra do từng bang quy định. Trong khi đó, quyền tuyển sinh được trao rất rộng cho các trường đại học.
Mỗi quốc gia đều có điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống giáo dục riêng, Việt Nam không cần học, áp dụng hoàn toàn mô hình từ các nước. Tuy nhiên, điều đáng tham khảo chính là tư duy thiết kế hệ thống.
Đề xuất xét tốt nghiệp THPT, các trường đại học tự chủ tuyển sinh
TS Đào Trung Hiếu cho rằng, từ những phân tích trên, điều cần được đặt ra không phải là nên giữ hay bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT theo cách hiểu đơn giản, mà là nghiên cứu một mô hình khảo thí phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của nền giáo dục trong giai đoạn mới.
Có thể cân nhắc một hướng nghiên cứu theo lộ trình, trong đó việc công nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện trên cơ sở kết quả của cả quá trình học tập và rèn luyện, kết hợp với việc đáp ứng các chuẩn đầu ra thống nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Sau 12 năm học tập, nếu người học đạt đầy đủ các yêu cầu theo quy định thì được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Đây là sự ghi nhận kết quả của cả một quá trình giáo dục, thay vì đặt trọng tâm quyết định vào một kỳ thi diễn ra trong vài ngày.
Trong khi đó, tuyển sinh đại học cần trở về đúng bản chất của hoạt động tuyển chọn. Trên cơ sở khung tiêu chuẩn chung của Nhà nước, các cơ sở giáo dục đại học được mở rộng quyền tự chủ trong việc lựa chọn phương thức tuyển sinh phù hợp với đặc thù ngành nghề và mục tiêu đào tạo.
Có trường có thể sử dụng kết quả một kỳ thi đánh giá năng lực chung; có trường kết hợp học bạ, bài luận, phỏng vấn hoặc bài kiểm tra chuyên biệt; những ngành đặc thù như y khoa, nghệ thuật, kiến trúc hay sư phạm hoàn toàn có thể xây dựng quy trình tuyển chọn riêng để tìm đúng người học phù hợp nhất. Điều quan trọng không phải là tất cả các trường cùng sử dụng một phương thức, mà là mọi phương thức đều phải bảo đảm tính khách quan, minh bạch và khả năng kiểm chứng.
Một hệ thống được thiết kế theo hướng đó sẽ mang lại nhiều lợi ích đồng thời. Giáo dục phổ thông sẽ trở về đúng sứ mệnh hình thành nền tảng tri thức, phẩm chất và năng lực cho người học thay vì bị cuốn quá nhiều vào mục tiêu luyện thi.
Các trường đại học có điều kiện thực hiện đầy đủ quyền tự chủ tuyển sinh theo tinh thần của Luật Giáo dục đại học. Giáo dục nghề nghiệp cũng sẽ có cơ hội phát triển mạnh hơn khi học sinh không còn mặc nhiên coi đại học là con đường duy nhất sau khi tốt nghiệp phổ thông.
Quan trọng hơn, áp lực lợi ích sẽ không còn dồn nén vào một kỳ thi duy nhất, qua đó góp phần giảm động cơ phát sinh tiêu cực và nâng cao tính liêm chính của toàn bộ hệ thống đánh giá.
“Khi việc công nhận hoàn thành giáo dục phổ thông và việc tuyển chọn vào đại học được phân định rõ về mục tiêu, mỗi hoạt động đánh giá sẽ trở về đúng chức năng của mình. Áp lực lợi ích không còn dồn vào một kỳ thi duy nhất, quyền tự chủ của các trường đại học được phát huy tốt hơn, còn giáo dục phổ thông có điều kiện tập trung vào mục tiêu căn bản là hình thành năng lực và phẩm chất của người học, thay vì quá nặng về luyện thi”, ông Hiếu cho hay.
Theo TS Đào Trung Hiếu, việc thay đổi mô hình khảo thí quốc gia liên quan đến hàng triệu học sinh, hàng chục nghìn cơ sở giáo dục và nhiều quy định của pháp luật. Vì vậy, không thể thực hiện bằng những quyết định vội vàng hay chỉ xuất phát từ phản ứng trước một vụ việc cụ thể. Mọi đề xuất đều cần được nghiên cứu khoa học, tham vấn rộng rãi các nhà quản lý, chuyên gia giáo dục, cơ sở đào tạo, giáo viên, phụ huynh và xã hội trước khi lựa chọn phương án phù hợp nhất.