Sáng 5/5, rất đông người thân, đồng nghiệp, học trò đã đến tiễn đưa GS.TSKH. NGND Đặng Như Tại, nguyên Chủ nhiệm Khoa Hóa học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong ký ức người ở lại, GS Đặng Như Tại là một nhà khoa học uy tín của ngành Hóa học hữu cơ Việt Nam, một người thầy mẫu mực... Ông từ trần ngày 1/5, khép lại một hành trình 93 năm tận hiến cho khoa học và giáo dục nước nhà.
Nhà khoa học tiêu biểu của hóa học hữu cơ Việt Nam
Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Nguyễn Minh Ngọc, Trưởng Khoa Hóa học - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội cho hay, khi nhắc đến hóa học hữu cơ Việt Nam, không thể không nhắc tới GS.TSKH Đặng Như Tại.
“Ông là một nhà khoa học tiêu biểu, một người thầy tận tụy đã dành trọn cuộc đời mình cho giảng đường, phòng thí nghiệm và sự trưởng thành của bao thế hệ học trò”, PGS.TS Nguyễn Minh Ngọc chia sẻ.
Hơn 40 năm gắn bó với giảng dạy và nghiên cứu, GS.TSKH Đặng Như Tại đã công bố hơn 120 công trình khoa học trong và ngoài nước, chủ trì nhiều đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ.
Đặc biệt, bộ giáo trình Hóa học hữu cơ do ông và đồng nghiệp biên soạn từ những thập niên 70 đã trở thành tài liệu nền tảng cho nhiều thế hệ sinh viên các trường đại học lớn. Những trang sách ấy không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn định hình tư duy khoa học cho người học, góp phần xây dựng nền móng cho ngành hóa học nước nhà.
Không chỉ nghiên cứu, ông còn là người thầy tận tụy. Năm 1957, sau khi tốt nghiệp đại học, ông là cử nhân hóa học duy nhất của khóa được giữ lại giảng dạy tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (tiền thân của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội ngày nay).
Trong hoàn cảnh trường mới được thành lập còn thiếu thốn trăm bề, không đủ phương tiện hỗ trợ, ông đã gánh vác những nhiệm vụ nặng nề, đặt những viên gạch đầu tiên, đưa Khoa Hóa học phát triển thành một địa chỉ đào tạo, nghiên cứu hàng đầu của đất nước.
Từ năm 1978 đến 1990, GS Đặng Như Tại giữ cương vị Chủ nhiệm Khoa Hóa học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn, cùng với điều hành chuyên môn, ông còn chăm lo đời sống cán bộ, xây dựng một tập thể đoàn kết, tạo nền tảng cho sự phát triển mạnh mẽ sau này.
Những danh hiệu cao quý như Nhà giáo Nhân dân, Huân chương Lao động hạng Nhất hay Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp của ông. Nhưng như nhiều học trò chia sẻ, phần thưởng lớn nhất của ông chính là những thế hệ tiếp nối, những con người mang theo ngọn lửa khoa học mà ông đã âm thầm thắp lên. Nhiều học trò của ông sau này trở thành các nhà khoa học đầu ngành, tiếp tục phát triển những hướng nghiên cứu mà ông đã gây dựng.
Từ cậu bé vượt sông đi học đến nhà khoa học lớn
Cuộc đời GS Đặng Như Tại là một hành trình dài của nghị lực. Ông sinh năm 1934 tại huyện Vũ Thư, Thái Bình, trong một gia đình có hoàn cảnh nhiều khó khăn. Mồ côi cha từ sớm, các anh tham gia kháng chiến, ông lớn lên trong sự tảo tần của người mẹ.
Năm 1951, khi mới là một thiếu niên, ông rời quê, theo đường giao liên vượt vùng tạm chiếm, băng qua sông Hồng để vào Thanh Hóa học tập. Chặng đường cậu bé gầy gò lặng lẽ bước đi trong đêm đã trở thành dấu mốc mở đầu cho hành trình tìm kiếm tri thức.
Ông theo học tại các trường danh tiếng của kháng chiến, như: Trường cấp 3 Hồ Tùng Mậu và Cù Chính Lan thuộc Liên khu III. Sau khi hòa bình lập lại, năm 1954, ông thi đỗ vào Trường Đại học Sư phạm Khoa học (nay là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), một trong những cái nôi đào tạo trí thức hàng đầu lúc bấy giờ.
Cuộc sống gian khổ, thiếu thốn, chỉ có bộ quần áo nâu gắn bó suốt nhiều năm, nhưng ngay từ thời sinh viên, ông đã cuốc bộ hàng cây số để dạy học miễn phí cho công nhân, bắt đầu những bước đầu tiên của sự nghiệp gieo ánh sáng tri thức.
Năm 1957, tốt nghiệp xuất sắc, ông được giữ lại giảng dạy tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1959, ông được cử sang Liên Xô học tập tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, nơi ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ. Đây là giai đoạn giúp ông tiếp cận nền khoa học hiện đại, hình thành phong cách nghiên cứu nghiêm cẩn và trách nhiệm.
Trở về nước trong thời kỳ chiến tranh, ông tiếp tục giảng dạy và nghiên cứu trong điều kiện thiếu thốn. Những năm sơ tán lên Bắc Thái, giữa cảnh thiếu điện, thiếu thiết bị, ông và đồng nghiệp vẫn kiên trì làm khoa học. Dưới ánh đèn dầu, nhiều công trình nghiên cứu và giáo trình đã ra đời, minh chứng cho một tinh thần khoa học không khuất phục hoàn cảnh.
Chiến tranh cũng để lại những mất mát lớn khi hai người anh của ông hy sinh. Nhưng nỗi đau ấy không làm ông dừng lại. Ông tiếp tục sống, làm việc, như một cách “sống thay” cho những người đã ngã xuống.
Sau hòa bình, ông tiếp tục phát triển sự nghiệp, được phong Phó giáo sư năm 1980, bảo vệ Tiến sĩ khoa học năm 1987 và trở thành Giáo sư năm 1991.
Cả một đời tận hiến cho khoa học và giáo dục, đạt được nhiều thành tựu, nhưng điều khiến GS Đặng Như Tại được kính trọng không ở học hàm, học vị, mà là nhân cách.
Ở vai trò quản lý nhiều năm, ông luôn quan tâm đến đời sống của cán bộ, giảng viên, sẵn sàng nhường quyền lợi cá nhân cho đồng nghiệp có hoàn cảnh khó khăn hơn. Đặc biệt, ông luôn giữ cho mình phong cách sống giản dị, khiêm nhường. Ông không thích nói nhiều về bản thân, luôn cho rằng những gì mình làm được là điều bình thường của một người làm khoa học. "Tôi chỉ là một cán bộ giảng dạy bình thường, không có gì đặc biệt", ông từng chia sẻ.
Trong đời sống riêng, ông là một người chồng, người cha, người ông tận tụy. Theo lời kể, dù tuổi đã cao, ông vẫn đi chiếc xe máy cũ, đem sữa vào bệnh viện cho đứa cháu sơ sinh. Ông cũng tận tình hướng dẫn các cháu học hành, khơi dậy trong các cháu tình yêu với khoa học.
Ông cùng với người bạn đời của mình, GS.TSKH. Ngô Thị Thuận đã cống hiến cho khoa học và trở thành một trong những cặp vợ chồng hiếm hoi đều được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.
GS Đặng Như Tại ra đi, nhưng di sản ông để lại không hề khép lại. “Trong ký ức của đồng nghiệp, trong bước đi của học trò, trong từng trang sách và công trình khoa học, thầy giáo Đặng Như Tại vẫn hiện diện như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Một đời người có thể hữu hạn, nhưng một nhân cách lớn, một tấm lòng tận hiến cho tri thức và con người sẽ còn sống mãi”, PGS.TS Nguyễn Minh Ngọc chia sẻ.