Chế độ ăn cho người suy thận mạn

(khoahocdoisong.vn) - Một chế độ ăn phù hợp sẽ giúp người suy thận phòng ngừa và điều trị suy dinh dưỡng, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa, làm chậm tiến triển của bệnh.

Giảm đạm và đủ vitamin

Chế độ ăn giảm đạm được chế biến tuỳ theo từng bệnh nhân và từng giai đoạn của suy thận mạn (STM) và được dựa trên nguyên tắc:

1. Giảm protein (đạm): Dùng protein có giá trị sinh học cao, nghĩa là đủ axit amin cơ bản thiết yếu và tỷ lệ hấp thu cao. Giàu năng lượng, đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng và hạn chế quá trình giáng hóa protein trong cơ thể.

2. Đủ vitamin, yếu tố vi lượng, yếu tố chống thiếu máu. Đảm bảo cân bằng nước, muối, ít toan, đủ canxi, ít phosphat. Chế độ ăn ít đạm sẽ làm giảm gánh nặng quá tải đào thải axit, urê, các nitơ protein khác cho thận và giảm quá trình xơ hóa cầu thận do đó sẽ hạn chế được sự gia tăng urê máu, làm giảm nhẹ được hội chứng urê máu cao và làm giảm quá trình tiến triển của suy thận mạn.

Nhu cầu dinh dưỡng khi chưa chạy thận nhân tạo

Năng lượng: 35 – 45kcal/kg/ngày. Thức ăn cung cấp năng lượng nên sử dụng như sau: tăng chất bột ít protein, chủ yếu là các loại khoai như khoai tây, khoai lang, khoai sọ, sắn, bột sắn, miến dong.

Chất đạm (protein): Tùy theo giai đoạn của bệnh thận mạn mà lượng protein trong khẩu phần ăn là khác nhau. Bệnh nhân có MLCT (mức lọc cầu thận) càng thấp, lượng protein trong khẩu phần ăn càng phải giảm, thông thường protein từ 0,6 - 0,8g/kg cân nặng (100g thịt bò nạc chỉ cho 20g protein). Nhu cầu chất đạm trong khẩu phần tùy thuộc vào độ nặng của bệnh. Cần cung cấp đủ năng lượng.

Ở bệnh nhân có MLCT <25ml/phút, tuổi<60 cần khoảng đủ 35 cal/kg/ngày, nếu >60 tuổi nên duy trì từ 30-35 cal/kg/ngày. Lượng đạm trong khẩu phần ăn ở bệnh nhân có MLCT <25ml/phút nên duy trì khoảng 0.6 - 0.75 g/kg/ngày để tránh tình trạng suy dinh dưỡng. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian sống của bệnh nhân khi được lọc máu. Bổ sung các axit amin kết hợp với chế độ ăn giảm protein, có nhiều loại khác nhau bác sĩ sẽ chọn loại phù hợp cho từng người bệnh. Khi bệnh nhân đã điều trị bằng phương pháp lọc máu ngoài cơ thể rồi thì chế độ ăn sẽ không còn áp dụng như khi chưa lọc máu nữa.

Việc giảm đạm trong khẩu phần giúp làm giảm ứ đọng các sản phẩm thải trong cơ thể, hạn chế biến chứng tăng urê máu, chậm tiến triển đến STM giai đoạn cuối.

Chất béo: Dưới 30% tổng năng lượng khẩu phần.

Chất bột đường: Khoảng 55-60% tổng năng lượng khẩu phần. Nên dùng đường phức, giàu xơ, thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp nếu bệnh nhân có kèm bệnh đái tháo đường.

Vitamin và chất khoáng: Canxi: 900-1200mg/ngày; photpho: 300 - 600mg/ngày; muối natri: 1000 -2000mg/ngày (tương đương 2,5-5g muối ăn NaCl/ngày) tùy theo mức độ phù và tăng huyết áp, kali: 2000-3000 mg/ngày, hạn chế dưới 1000mg khi có tăng kali máu, phù và tiểu ít; sắt, vitamin B12, axit folic, vitamin B6 là phức hợp chống thiếu máu cần bổ sung cho bữa ăn.  Đảm bảo cân bằng nước, muối, ít toan, đủ canxi, ít phosphat. Hạn chế muối ở mức 2-4 g mỗi ngày. Ăn nhạt khi có phù, tăng huyết áp, suy tim. 

Giảm thức ăn giàu phosphat như gan, thận, trứng.Tăng thức ăn nhiều canxi như tôm, cá, sụn. Nước uống vừa đủ, ngang lượng tiểu ra, ít hơn nếu có phù, nhiều hơn nếu mất nước. Bệnh thận mạn được phân làm 5 giai đoạn dựa trên MLCT:

- Bệnh thận mạn giai đoạn 1: MLCT > 90ml/ph.

- Bệnh thận mạn giai đoạn 2: MLCT 60 – 89ml/ph.

- Bệnh thận mạn giai đoạn 3: MLCT 30 – 59ml/ph.

- Bệnh thận mạn giai đoạn 4: MLCT từ 15 – 29ml/ph.

- Bệnh thận mạn giai đoạn 5: MLCT < 15ml/ph (phải lọc máu hoặc ghép thận).

PGS.TS Đỗ Gia Tuyển

(Trưởng khoa Thận Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai)

Theo Đời sống
back to top