Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc sáng lập Trung tâm Vũ trụ Việt Nam cho hay, không thể phát triển công nghệ vũ trụ nếu đi một mình, Việt Nam buộc phải “đi cùng thế giới” nhưng theo cách riêng để tích lũy năng lực.
Hợp tác quốc tế là “bệ phóng” để hình thành năng lực vũ trụ
Theo PGS.TS Phạm Anh Tuấn, hợp tác quốc tế có vai trò nền tảng trong quá trình hình thành năng lực công nghệ vũ trụ của Việt Nam. Đối với một lĩnh vực có rào cản công nghệ cao, vốn đầu tư lớn và chuỗi tri thức rất dài như vũ trụ, rất khó để một quốc gia đi lên hoàn toàn một mình ngay từ đầu.
Thông qua Dự án “Trung tâm Vũ trụ Việt Nam”, hợp tác với Nhật Bản có ý nghĩa đặc biệt nổi bật, vì không chỉ hỗ trợ về thiết bị hay kỹ thuật, mà còn góp phần xây dựng hạ tầng, đào tạo nhân lực, chuẩn hóa quy trình vận hành, nâng cao năng lực quản lý dự án và chuẩn bị điều kiện để Việt Nam từng bước làm chủ các công nghệ phức tạp hơn, trong đó có công nghệ radar.
Các đối tác châu Âu cũng có đóng góp quan trọng trong việc giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ quan sát Trái Đất, thông qua dự án vệ tinh VNREDSat-1 và các thỏa thuận chia sẻ dữ liệu, tích lũy kinh nghiệm khai thác dữ liệu và hiểu rõ hơn cách tổ chức một hệ sinh thái ứng dụng dữ liệu vệ tinh.
Điều quan trọng là hợp tác quốc tế không nên chỉ dừng ở hỗ trợ kỹ thuật đơn lẻ, mà cần hướng tới cùng giải quyết các mối quan tâm chung như thiên tai, biến đổi khí hậu, giám sát môi trường, an ninh nguồn nước, quản lý vùng biển và phát triển bền vững. Khi hợp tác gắn với các vấn đề chung như vậy, hiệu quả thường bền vững hơn và dễ tạo ra năng lực thực chất hơn.
Từ mô hình của Ấn Độ, Việt Nam có thể học hỏi trước hết ở cách tổ chức phát triển theo chương trình dài hạn, có mục tiêu rõ, có lộ trình rõ và kiên trì tích lũy năng lực qua từng thế hệ nhiệm vụ. Điểm đáng học không chỉ là công nghệ, mà còn là cách họ tạo mối liên kết giữa bài toán quốc gia, chính sách công, năng lực khoa học, công nghiệp và thị trường.
Một bài học khác rất quan trọng là phải chấp nhận đi từng bước, xây dựng lịch sử bay, chuẩn hóa quy trình và phát triển công nghiệp hỗ trợ theo chiều sâu.
Về khoảng cách, Việt Nam còn khá xa so với Ấn Độ về quy mô đầu tư, chiều sâu công nghiệp, năng lực phóng, chuỗi cung ứng nội địa và hệ sinh thái doanh nghiệp. Nhưng điều đó không có nghĩa là không có cơ hội. Điều cần làm là chọn đúng những phân khúc phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đi chắc, tích lũy bền vững và tránh dàn trải. Trước mắt cần tập trung vào sản phẩm chiến lược là vệ tinh quan sát Trái Đất.
Còn nếu so trực tiếp với ESA (Cơ quan Hàng không vũ trụ châu Âu) thì cần rất thận trọng, vì đây là một hệ thống có quy mô nguồn lực, nền tảng công nghiệp và chiều sâu khoa học rất lớn. Việt Nam hiện chưa ở cùng mặt bằng đó.
Tuy nhiên, nếu nhìn theo quỹ đạo phát triển của một quốc gia đang xây dựng năng lực vũ trụ theo hướng thực chất, phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu phát triển và an ninh, thì Việt Nam đang ở giai đoạn có nền tảng ban đầu tương đối rõ: có hạ tầng, có đội ngũ, có kinh nghiệm với vệ tinh nhỏ, có định hướng đẩy mạnh quan sát Trái Đất và có nhu cầu ứng dụng rất cụ thể.
Muốn vào “kinh tế vũ trụ”, phải chọn đúng thị trường ngách
PGS.TS Phạm Anh Tuấn cho biết, cơ hội thực tế của Việt Nam không nằm ở việc tham gia ngay vào mọi phân khúc, mà nằm ở chỗ chọn đúng thị trường ngách và gắn chặt với các nhu cầu đặc thù của đất nước.
Với Việt Nam, các nhu cầu lưỡng dụng là một hướng rất đáng chú ý. Đó là những nhu cầu vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa có giá trị đối với bảo đảm an ninh, an toàn, quản lý rủi ro và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia. Ví dụ như giám sát thiên tai, tài nguyên nước, nông nghiệp, môi trường, vùng bờ, hạ tầng trọng yếu, tàu thuyền và không gian biển.
Nếu làm tốt các bài toán này, Việt Nam không chỉ có sản phẩm để phục vụ trong nước mà còn có thể dần hình thành năng lực công nghệ, năng lực tài chính, nguồn nhân lực và mô hình vận hành đủ sức cạnh tranh ở quy mô phù hợp với các quốc gia khác. Đây là cách đi bền vững hơn nhiều so với việc cố tham gia sớm vào những phân khúc đòi hỏi vốn rất lớn nhưng chưa có lợi thế rõ rệt.
Bên cạnh đó, trong kinh tế vũ trụ hiện nay, giá trị ngày càng dịch chuyển mạnh sang dữ liệu, nền tảng số và dịch vụ ứng dụng. Đây chính là khu vực mà các nước đi sau như Việt Nam vẫn có cơ hội tham gia, nếu biết tận dụng nhu cầu thực tế trong nước để tạo ra năng lực và sản phẩm có tính cạnh tranh.
Để tiến tới tự chủ công nghệ vệ tinh trong tương lai, Việt Nam cần cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, và tập trung vào một số đột phá mang tính nền tảng, cũng là những vấn đề cốt lõi đã được chỉ đạo khá rõ trong định hướng phát triển khoa học công nghệ vũ trụ hiện nay.
Trước hết là hoàn thiện thể chế và khung pháp lý cho hoạt động vũ trụ, tiến tới xây dựng Luật Vũ trụ của Việt Nam. Đối với một lĩnh vực có tính liên ngành rất cao, liên quan đến đầu tư công, chuyển giao công nghệ, dữ liệu, an toàn, an ninh, bảo hiểm, hợp tác quốc tế và thương mại hóa như công nghệ vũ trụ, nếu thiếu một hành lang pháp lý đủ rõ thì rất khó tạo ra sự liên thông và ổn định lâu dài cho phát triển.
Thứ hai là phải tập trung nguồn lực cho những bài toán lớn của quốc gia, có mục tiêu rõ, nhu cầu rõ và đầu ra sử dụng rõ. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt thông qua cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và trong những lĩnh vực cần thiết, Nhà nước cần là khách hàng đầu tiên để hình thành thị trường ban đầu cho sản phẩm, dịch vụ công nghệ vũ trụ trong nước. Cùng với đó, cần tạo sự liên thông giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, đầu tư hạ tầng, đặt hàng sản phẩm và hình thành thị trường. Chỉ khi có những bài toán đủ lớn và cơ chế sử dụng đủ rõ thì nguồn lực mới có thể tập trung, thu hút được cả khu vực công lẫn khu vực tư, từ đó tạo điều kiện để công nghệ phát triển, doanh nghiệp tham gia và năng lực tự chủ được tích lũy một cách thực chất.
Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với ưu đãi “đặc biệt”. Lĩnh vực vũ trụ không chỉ cần các nhà khoa học, mà rất cần có “Tổng công trình sư” và “Kỹ sư trưởng” với đội ngũ kỹ sư hệ thống, kỹ sư tích hợp, chuyên gia vận hành, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia an toàn, quản lý dự án và cả lực lượng doanh nghiệp công nghệ đủ năng lực tham gia vào chuỗi giá trị.
Thứ tư là cần tạo sự liên thông giữa nghiên cứu, phát triển công nghệ, đầu tư hạ tầng, đặt hàng sản phẩm và hình thành thị trường. Nếu chỉ dừng ở nghiên cứu mà không có đầu ra ứng dụng, hoặc chỉ mua dịch vụ mà không gắn với mục tiêu tích lũy công nghệ trong nước, thì rất khó hình thành năng lực tự chủ thực chất.
Thứ năm là phải phát huy hiệu quả các hạ tầng đã được đầu tư, trong đó có Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, để hạ tầng này thực sự trở thành nơi tích lũy công nghệ, đào tạo con người, vận hành hệ thống và phát triển ứng dụng, chứ không chỉ dừng ở vai trò tiếp nhận thiết bị.
Bên cạnh đó, cũng cần nhấn mạnh thêm một điểm là đối với lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ vũ trụ, chúng ta phải có cách tiếp cận phù hợp với bản chất của nó: quản trị rủi ro chặt chẽ nhưng không vì quá thận trọng mà triệt tiêu không gian học hỏi và tích lũy năng lực. Nếu chỉ chọn phương án an toàn tuyệt đối thì rất dễ rơi vào mô hình phụ thuộc, trong khi mục tiêu dài hạn của chúng ta là từng bước làm chủ công nghệ.
Tự chủ hoàn toàn là mục tiêu dài hạn. Muốn đi tới đó, Việt Nam cần một Chiến lược tổng thể và bền vững: hoàn thiện thể chế, tập trung nguồn lực, đặt hàng các bài toán lớn của quốc gia, phát triển con người, khai thác hiệu quả hạ tầng đã có và kiên trì tích lũy năng lực qua từng chương trình, từng dự án cụ thể.
Vị thế phù hợp nhất để tự đánh giá hiện nay là Việt Nam đang ở nhóm quốc gia từng bước hình thành năng lực công nghệ vũ trụ theo hướng ứng dụng, đặc biệt trong mảng quan sát Trái Đất và khai thác dữ liệu vệ tinh. Mục tiêu khả thi không phải là so sánh theo quy mô tuyệt đối với các tổ chức hàng đầu thế giới, mà là từng bước trở thành một quốc gia có năng lực thực chất, có một số thế mạnh đặc thù và có chỗ đứng rõ trong khu vực.
>>> Mời độc giả xem thêm video Bên trong bảo tàng vũ trụ duy nhất tại Việt Nam: