Khám phá - Thể thao

Chuyện xót xa phía sau bài thơ ‘Màu tím hoa sim’ của nhà thơ Hữu Loan

Bài thơ “Màu tím hoa sim” được nhà thơ Hữu Loan viết năm 1949, sau cái chết của người vợ trẻ.

Tháng 5/1948, người vợ trẻ Lê Đỗ Thị Ninh qua đời sau một tai nạn ngã sông, chỉ ba tháng sau ngày cưới đơn sơ với nhà thơ, người lính Hữu Loan. Không kịp về nhìn mặt vợ lần cuối, nỗi đau dồn nén được nhà thơ gửi gắm trọn vẹn vào những câu thơ. "Màu tím hoa sim" ra đời từ một câu chuyện đời thực, để rồi vượt qua phạm vi nỗi đau của một tình yêu cá nhân, trở thành ký ức chung lay động nhiều thế hệ độc giả.

nha-tho-huu-loan-2971.jpg
Nhà thơ Hữu Loan.

Mối tình định mệnh

Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh năm 1914 trong một gia đình tá điền ở Thanh Hóa. Không được học hành đến nơi đến chốn, ông chỉ học bữa được bữa không ở nhà, dưới sự dạy dỗ của cha. Bù lại, Hữu Loan sớm bộc lộ tư chất thông minh. Người làng Văn Hoàn kể, khoảng năm 1938, ông vác lều chõng ra Hà Nội dự thi. Kỳ thi năm ấy có rất ít người đỗ. Trong số những người cùng đỗ với Hữu Loan có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện...

Năm 24 tuổi, Hữu Loan rời quê lên thành phố Thanh Hóa dạy học. Khi ấy, tại thành phố có cửa hàng bán vải và sách của bà Tham Kỳ, tên thật là Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, một kỹ sư canh nông từng làm Tổng Thanh tra Canh nông Đông Dương và sau này là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hữu Loan thường ghé cửa hàng xem và mua sách.

Ngưỡng mộ tiếng tăm của người thầy trẻ, gia đình bà Chất mời Hữu Loan về dạy học cho con trai và cô con gái út Lê Đỗ Thị Ninh, khi ấy mới 8 tuổi.

Theo lời kể của nhà thơ Hữu Loan, lần đầu tiên ông đến nhà, bà Chất phải gọi mãi cô bé Ninh mới chịu ra khoanh tay chào thầy: “Em chào thầy ạ!”. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to mắt nhìn thẳng vào người thầy mới.

“Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời”, nhà thơ Hữu Loan kể.

Cô học trò nhỏ cũng dành cho người thầy sự chăm sóc kín đáo. Khi thì em đặt vào góc mâm, nơi thầy ngồi ăn, vài quả ớt đỏ au vừa hái trong vườn, khi là một quả chanh mọng nước. Những buổi trưa hè, lúc thầy ngủ, em lén lấy chiếc áo sơ mi trắng của thầy treo ở góc nhà đem ra giếng giặt.

Có lần, hai thầy trò cùng lên một quả đồi đầy hoa sim. Ninh hái sim cho thầy ăn. Những quả sim chín khiến môi, má và cả hàm răng cô bé tím đỏ.

Sau khi tốt nghiệp thành chung, Hữu Loan ra Hà Nội học tú tài. Trong một đợt phát động Tuần lễ vàng, ông diễn thuyết trước đám đông. Tại đây, Hữu Loan bất ngờ gặp lại cô học trò năm xưa, nay đã trở thành một thiếu nữ.

Cuộc gặp ấy mở ra một chặng đời khác. Năm 1948, Hữu Loan và Lê Đỗ Thị Ninh thành thân.

Đám cưới diễn ra trong thời chiến, đơn sơ như chính cuộc sống của những người đang ở giữa cuộc kháng chiến. Nhà thơ Hữu Loan mặc quân phục, mang đôi giày đinh bết bụi đường hành quân. Hai vợ chồng chỉ có một thời gian rất ngắn bên nhau trước khi ông phải trở lại đơn vị.

Trong Màu tím hoa sim, nhà thơ Hữu Loan nhớ về những ngày ấy bằng những câu thơ mộc mạc: “Tôi người Vệ quốc quân/ xa gia đình/ yêu nàng như tình yêu em gái/ ngày hợp hôn/ nàng không đòi may áo mới”. Hạnh phúc vừa đến đã phải chia xa. Người lính ra đi, còn người vợ trẻ ở lại hậu phương.

"Màu tím hoa sim": Từ bi kịch cá nhân đến bài thơ bất tử

Khoảng ba tháng sau ngày cưới, nhà thơ Hữu Loan nhận tin dữ. Ngày 29/5 âm lịch năm 1948, Lê Đỗ Thị Ninh đưa quần áo ra giặt bên sông Chuồng, thuộc Nông Cống, Thanh Hóa. Bà trượt chân và bị dòng nước cuốn đi. Người vợ trẻ qua đời khi mới 18 tuổi.

Bài thơ “Màu tím hoa sim” được nhà thơ Hữu Loan viết năm 1949, sau cái chết của vợ. Nhà thơ từng kể rằng ông gần như không thể nói ra nỗi đau ấy. Đến một đợt chỉnh huấn, khi cán bộ yêu cầu mọi người nói hết tâm tư, những điều dồn nén trong lòng ông bật ra thành câu chữ.

Khi vợ mất, ông không thể có mặt trong khoảnh khắc cuối cùng của vợ. Chính sự xa cách ấy khiến nỗi đau trong bài thơ càng day dứt: “Tôi về/ không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới/ thành bình hương/ tàn lạnh/ vây quanh”.

Bài thơ ban đầu được viết tay rồi truyền miệng trong nhiều năm. Năm 1956, Màu tím hoa sim được in trên báo Trăm hoa do Nguyễn Bính làm chủ bút. Từ đó, câu chuyện riêng của Hữu Loan dần trở thành câu chuyện được nhiều thế hệ độc giả đồng cảm.

Những chi tiết trong bài thơ phần lớn bắt nguồn từ đời thực. Những đồi sim trong bài thơ cũng gắn với ký ức tình yêu của hai người.

Vì thế, Màu tím hoa sim không giống một bài thơ tình được dựng lên từ trí tưởng tượng. Đó là câu chuyện của một người đàn ông mất người vợ trẻ chỉ vài tháng sau ngày cưới. Nỗi đau riêng ấy được nhà thơ Hữu Loan giữ lại trong những câu thơ mộc mạc, để rồi từ một cuộc đời cụ thể, nó chạm tới nỗi mất mát của biết bao người trong chiến tranh.

Khi những câu thơ cất lên, nỗi đau của nhà thơ Hữu Loan đã vượt khỏi câu chuyện của riêng ông, trở thành ký ức về tình yêu và chiến tranh của nhiều thế hệ.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày bài thơ ra đời, nhà thơ Hữu Loan vẫn còn nhớ người vợ đầu. Ông từng nói về Lê Đỗ Thị Ninh: “Bà ấy là một người đẹp, dịu dàng, một cô gái tân thời, có học thức ra đi từ lúc vừa tròn 18 tuổi”.

Sau khi người vợ đầu qua đời, nhà thơ Hữu Loan kết hôn với người vợ thứ hai, bà Phạm Thị Nhu, người đã cùng ông vượt qua mọi khó khăn, nuôi dạy 10 đứa con nên người.

Nhà thơ Hữu Loan mất ngày 18/3/2010 (tức ngày 3 tháng 2 năm Canh Dần), hưởng thọ 95 tuổi, được an táng tại nghĩa trang quê nhà.

back to top