Thời sự

TS Đào Trung Hiếu cảnh báo: 'Làm phẳng' kỷ luật, bạo lực học đường leo thang

Theo TS Đào Trung Hiếu, khi kỷ luật cao nhất chỉ là xin lỗi và viết bản kiểm điểm, bạo lực học đường có nguy cơ leo thang, cần điều chỉnh kịp thời.

Sau 6 tháng áp dụng Thông tư 19/2025/TT-BGDDT về khen thưởng và kỷ luật học sinh, nhiều ý kiến cho rằng hình thức kỷ luật cao nhất là viết bản kiểm điểm chưa phù hợp với thực tiễn.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, Thượng tá, TS, chuyên gia Tâm lý học tội phạm Đào Trung Hiếu cho biết, những biểu hiện bạo lực học đường với mức độ ngày càng hung hãn và lứa tuổi ngày càng trẻ hóa, cho thấy một tín hiệu đáng lo ngại: nỗi sợ kỷ luật đang suy giảm rõ rệt.

“Ở góc nhìn tội phạm học, đây chính là thời điểm mà một hành vi lệch chuẩn bắt đầu tìm được “không gian tồn tại”. Nếu không bị chặn lại bằng những rào cản đủ mạnh, nó sẽ tiếp tục leo thang theo một quán tính khó đảo ngược”, ông Hiếu cảnh báo.

ts-dao-trung-hieu.png
Thượng tá, TS, chuyên gia Tâm lý học tội phạm Đào Trung Hiếu.

Hệ thống kỷ luật đã bị làm phẳng

Theo TS Đào Trung Hiếu, không thể phủ nhận tinh thần của Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT là hướng đến một nền giáo dục nhân văn hơn, giảm trừng phạt, tăng giáo dục tích cực và tạo điều kiện cho học sinh tự nhận thức, tự điều chỉnh. Tuy nhiên, chính ở điểm này đã xuất hiện một sự trượt nghĩa đáng lo ngại giữa mục tiêu và công cụ.

"Khi “xin lỗi” được xác định là mức kỷ luật cao nhất đối với học sinh tiểu học, và “viết bản kiểm điểm” là mức cao nhất đối với các cấp học còn lại, thì về cấu trúc, hệ thống kỷ luật đã bị làm phẳng theo cách không còn đủ độ dốc để phản ứng với các hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng", ông Hiếu cho hay.

Chuyên gia tội phạm học phân tích, khi học sinh nhận ra rằng dù vi phạm nhiều lần thì hậu quả cao nhất cũng chỉ là viết bản kiểm điểm, thì cán cân hành vi nghiêng hẳn về phía lệch chuẩn. Bởi lợi ích tức thời của việc sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn hoặc khẳng định vị thế sẽ trở nên lớn hơn nhiều so với cái giá phải trả.

Viết bản kiểm điểm vốn chỉ nên là một bước trong tiến trình giáo dục nhận thức, lại bị đẩy lên thành giới hạn cao nhất của kỷ luật. Chính sự nâng cấp không đúng chỗ này đã làm rỗng nội dung của cả hai khái niệm, vừa làm suy yếu kỷ luật, vừa làm mất giá trị giáo dục của việc tự kiểm điểm.

Thực tế, với những học sinh còn khả năng tự phản tỉnh, bản kiểm điểm có thể là một công cụ hữu ích giúp các em nhìn lại hành vi của mình. Nhưng với những trường hợp tái phạm, cố tình vi phạm hoặc có hành vi bạo lực, thì tờ giấy ấy không còn mang theo bất kỳ chi phí hành vi nào đủ để tạo ra sự răn đe. Khi một hành vi sai không phải trả giá tương xứng, nó sẽ có xu hướng lặp lại, và mỗi lần lặp lại lại làm giảm thêm cảm giác “sai” trong nhận thức của người thực hiện.

Hệ quả không chỉ dừng lại ở việc gia tăng vi phạm, mà còn lan sang thái độ, khi một bộ phận học sinh bắt đầu thể hiện sự thách thức đối với nội quy và với chính giáo viên, không phải vì các em “xấu hơn”, mà vì các em nhận ra rằng hệ thống không đủ khả năng buộc các em phải chịu hậu quả.

“Trong bối cảnh tâm lý tuổi vị thành niên vốn dễ bị kích thích và thiếu khả năng kiểm soát xung động, thì sự thiếu vắng một cơ chế răn đe hiệu quả sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho hành vi bạo lực leo thang”, ông Hiếu cảnh báo.

Chậm sửa sai: Rủi ro không dừng ở nhà trường

TS Đào Trung Hiếu cho hay, một trong những nghịch lý lớn nhất trong các tranh luận về giáo dục là việc kỷ luật thường bị đặt đối lập với nhân văn, trong khi thực tế cho thấy kỷ luật chính là điều kiện để nhân văn được thực thi một cách bền vững. Không có kỷ luật, quyền lợi của những học sinh yếu thế sẽ không được bảo vệ, và môi trường học đường sẽ trở thành nơi mà cái mạnh lấn át cái đúng.

danh-hoi-dong.png
Hình ảnh nam sinh lớp 9 bị nhóm bạn cùng trường đánh hội đồng ở Ninh Bình ngày 24/4. Ảnh cắt từ clip. Nguồn: NLĐ.

Một lớp học chỉ thực sự hạnh phúc khi mọi học sinh đều cảm thấy an toàn, và điều đó không thể đạt được nếu hệ thống không đủ khả năng kiểm soát và ngăn chặn những hành vi bạo lực.

Những phản ánh từ giáo viên trong thời gian qua cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Một nền giáo dục không thể vận hành hiệu quả nếu người thầy bị tước đi quyền thiết lập kỷ cương, bởi kỷ cương không chỉ là công cụ quản lý, mà là điều kiện để quá trình giáo dục diễn ra một cách có ý nghĩa.

Khi học sinh không còn tôn trọng nội quy, không còn cảm nhận được hậu quả của hành vi sai, thì việc truyền đạt tri thức cũng trở nên khó khăn hơn, bởi nền tảng của việc học không chỉ là khả năng tiếp thu, mà còn là thái độ và kỷ luật cá nhân.

Không có chính sách nào hoàn hảo ngay từ đầu, nhưng khả năng nhận diện và điều chỉnh sai sót mới là thước đo thực sự của năng lực quản trị. Khi những bất cập đã được chỉ ra rõ ràng từ thực tiễn, khi các vụ việc bạo lực học đường liên tiếp xảy ra như những tín hiệu cảnh báo, mà việc điều chỉnh vẫn chậm trễ, thì rủi ro không còn nằm ở bản thân chính sách, mà nằm ở cách hệ thống phản ứng với sai sót.

Nếu tình trạng này kéo dài, hệ lụy sẽ không chỉ dừng lại trong phạm vi nhà trường, mà sẽ lan sang nhận thức pháp luật của cả một thế hệ, khi những đứa trẻ lớn lên trong môi trường mà vi phạm không gắn với hậu quả rõ ràng sẽ khó hình thành thói quen tự điều chỉnh khi bước vào đời sống xã hội.

“Nếu hôm nay chúng ta không đủ dũng khí để điều chỉnh những sai lệch đã thấy rõ, thì ngày mai xã hội sẽ phải đối diện với những hệ quả nặng nề hơn, không chỉ trong phạm vi nhà trường, mà trong chính cấu trúc an toàn của cộng đồng”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Theo TS Đào Trung Hiếu, khai phóng, trong truyền thống giáo dục phương Tây, chưa bao giờ đồng nghĩa với việc xóa bỏ kỷ luật, mà ngược lại, nó được xây dựng trên một nền tảng rất chặt chẽ về trách nhiệm cá nhân.

Tại Hoa Kỳ, các mô hình như Positive Behavioral Interventions and Supports được triển khai nhằm tạo ra môi trường học tập tích cực, nhưng điều cốt lõi là hệ thống này không loại bỏ kỷ luật mà thiết kế kỷ luật theo hướng đa tầng, có tính dự báo và có khả năng can thiệp sớm. Tại Anh, các công cụ như giữ lại sau giờ học, cách ly trong trường, đình chỉ học hay buộc thôi học vẫn tồn tại như những rào cản cần thiết để bảo vệ trật tự chung. Ở Nhật Bản, kỷ luật được nội hóa thành văn hóa, nơi việc xin lỗi không phải là kết thúc mà là khởi đầu của một quá trình sửa sai bằng hành động cụ thể trước tập thể.

Nếu ta chỉ giữ lại phần “tích cực” mà bỏ đi trục kỷ luật, thì đó không phải là khai phóng, mà là một sự giản lược nguy hiểm, dễ dàng trượt sang trạng thái buông lỏng.

back to top