Thời sự

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: 'Tiết kiệm - sức mạnh mềm của quốc gia giảm thiểu biến động năng lượng'

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đó là bên cạnh yêu cầu điều hành đồng bộ và siết chặt quản lý, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng để bảo đảm ổn định nguồn cung, giảm thiểu biến động tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong nước.

Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị được ban hành sau khi xem xét báo cáo của Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về tình hình giá xăng dầu trước tác động của chiến sự Trung Đông và những bất ổn trên thế giới.

Kết luận yêu cầu bám sát diễn biến cung cầu, chủ động kịch bản ứng phó, sử dụng đồng bộ các công cụ tài khóa, tiền tệ, quản lý giá, thương mại; đồng thời siết quản lý đầu mối, chống buôn lậu, găm hàng, gian lận thương mại và khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Công điện 22 về tăng cường các giải pháp bảo đảm cung ứng xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp.

888766555.jpg
PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, những chỉ đạo trên cho thấy một cách tiếp cận rất rõ. Đó là giữ ổn định giá nhiên liệu không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà là bài toán của thể chế, của năng lực điều hành và của văn hóa trách nhiệm trong toàn xã hội.

Một phép thử điển hình

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, mỗi khi giá xăng dầu tăng, người dân cảm nhận điều đó gần như ngay lập tức. Không cần những bảng biểu phức tạp, không cần các khái niệm kinh tế vĩ mô, chỉ cần một chuyến xe, một lần đổ xăng, một đơn hàng vận chuyển, một bữa chợ sáng là đủ để thấy tác động. Giá nhiên liệu tăng không dừng lại ở trụ bơm xăng. Nó đi tiếp vào cước vận tải, giá thành nguyên liệu, chi phí sản xuất, giá bán hàng hóa và cuối cùng là vào đời sống của từng gia đình. Bởi vậy, nói đến ổn định giá nhiên liệu là nói đến ổn định đời sống dân sinh, ổn định tâm lý xã hội và sâu xa hơn là ổn định nền kinh tế.

Chính vì thế, Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa rất đáng chú ý ở chỗ nó không nhìn vấn đề theo lối hẹp, chỉ coi đây là câu chuyện điều hành một loại hàng hóa thiết yếu. Kết luận đặt vấn đề trong bối cảnh rộng hơn: biến động địa chính trị toàn cầu, gián đoạn cung ứng, nguy cơ tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh, đời sống nhân dân, ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh trật tự xã hội. Từ đó, Bộ Chính trị yêu cầu Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ khẩn trương chỉ đạo các cơ quan bám sát tình hình, dự báo diễn biến cung cầu và giá cả xăng dầu thế giới để chủ động xây dựng kịch bản ứng phó hiệu quả; đồng thời xem xét sử dụng ngay các công cụ chính sách tài khóa, tiền tệ, quản lý giá và thương mại.

Ở đây có thể thấy rất rõ một tư duy điều hành hiện đại: thay vì phản ứng chậm sau khi biến động đã xảy ra, Kết luận 14 nhấn mạnh dự báo sớm, kịch bản sớm và phối hợp chính sách sớm. Điều đó đặc biệt quan trọng, bởi xăng dầu không chỉ là hàng hóa đầu vào của nền kinh tế, mà còn là yếu tố nhạy cảm đối với tâm lý thị trường. Chỉ cần thị trường xuất hiện tâm lý thiếu hụt, đầu cơ, găm hàng hoặc kỳ vọng giá tăng kéo dài, áp lực lên hệ thống sẽ lớn hơn rất nhiều so với bản thân mức tăng giá quốc tế.

Điều đáng nói hơn là cách tiếp cận này nối tiếp rất rõ tinh thần của Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 11/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đầu mối và thương nhân phân phối tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm cung ứng xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Nghĩa là, từ chỉ đạo của Chính phủ đến Kết luận của Bộ Chính trị, có một mạch xuyên suốt: không để thị trường bị động, không để thiếu hàng cục bộ, không để giá nhiên liệu gây đổ lan bất ổn sang các lĩnh vực khác.

Từ góc nhìn của cơ quan dân cử, điều này cũng gợi ra một vấn đề quan trọng: năng lực chống chịu của nền kinh tế không chỉ nằm ở quy mô tăng trưởng, mà còn nằm ở khả năng kiểm soát những rủi ro hệ thống từ bên ngoài. Giá nhiên liệu là một phép thử điển hình. Khi thị trường thế giới biến động, nếu trong nước thiếu công cụ điều tiết, thiếu kỷ luật thị trường, thiếu dữ liệu dự báo và thiếu sự phối hợp chính sách, thì tác động sẽ không dừng ở kinh tế mà có thể lan sang xã hội. Ngược lại, nếu thể chế đủ linh hoạt, điều hành đủ kịp thời, thông tin đủ minh bạch và niềm tin xã hội đủ vững, thì biến động bên ngoài sẽ được hấp thụ tốt hơn.

Bởi vậy, Kết luận 14 không chỉ là một văn bản xử lý tình huống. Nó còn là lời nhắc về yêu cầu phải nâng cấp năng lực quản trị quốc gia trong một thế giới ngày càng bất định. Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững thì không thể chỉ tính chuyện tăng trưởng khi thuận lợi, mà còn phải chuẩn bị cho những thời điểm sóng gió. Và trong những thời điểm như thế, điều quan trọng không phải là né tránh biến động, mà là đủ bản lĩnh để giữ ổn định.

888776.jpg
Ảnh minh họa.

Phải nhìn rộng hơn câu chuyện kinh tế

PGS.TS Bùi Hoài Sơn chỉ ra một điểm rất đáng chú ý trong Kết luận số 14-KL/TW là Bộ Chính trị yêu cầu sử dụng đồng bộ nhiều nhóm công cụ: tài khóa với các loại thuế, phí, chi, ứng chi ngân sách; tiền tệ với hỗ trợ lãi suất, vay vốn, nhu cầu ngoại tệ; cùng với chính sách quản lý giá, chính sách thương mại và các biện pháp thanh tra, kiểm tra, chống buôn lậu, quản lý chặt đầu mối, xử lý nghiêm tình trạng găm hàng trục lợi, gian lận thương mại. Đồng thời, Kết luận yêu cầu sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn.

Chỉ riêng cách đặt vấn đề như vậy đã cho thấy đây không phải bài toán có thể giải bằng một biện pháp đơn lẻ. Nếu chỉ trông vào giảm thuế mà thiếu kiểm tra thị trường, chưa chắc hiệu quả đến đúng người dân. Nếu chỉ siết quản lý đầu mối mà không tính đến thanh khoản, tín dụng, ngoại tệ và dự trữ, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó trong nhập hàng. Nếu chỉ nhìn câu chuyện trước mắt mà không xây chiến lược dài hạn, thì mỗi đợt biến động lại trở thành một lần chống đỡ lúng túng.

Điều đất nước cần ở đây là một hệ thống thể chế đủ đồng bộ để ứng phó cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Ngắn hạn là bảo đảm nguồn cung, không để đứt gãy, không để đầu cơ, không để nhiễu loạn tâm lý thị trường. Dài hạn là xây dựng năng lực tự chủ cao hơn về dự trữ, về điều hành, về đa dạng hóa nguồn cung, về chuyển đổi năng lượng và về mô hình tiêu dùng. Nói cách khác, thể chế không chỉ để “chữa cháy”, mà phải giúp đất nước đi qua khủng hoảng với tư thế chủ động hơn sau mỗi lần thử thách.

Ở góc độ lập pháp và giám sát, đây cũng là lúc cần nhìn kỹ hơn những khoảng trống chính sách liên quan đến an ninh năng lượng, dự trữ chiến lược, cơ chế điều phối liên ngành và trách nhiệm của từng khâu trong chuỗi cung ứng. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và hệ thống giám sát cần quan tâm không chỉ đến diễn biến giá trong từng kỳ, mà còn đến câu hỏi căn cốt hơn: hệ thống pháp luật hiện hành đã đủ khả năng tạo ra phản ứng nhanh, linh hoạt, nhưng vẫn minh bạch và kiểm soát được lợi ích nhóm hay chưa?

Bài toán xăng dầu luôn có một đặc điểm rất nhạy cảm: vừa mang tính thị trường, vừa mang tính công ích, vừa liên quan doanh nghiệp, vừa liên quan dân sinh. Chính vì thế, thể chế trong lĩnh vực này phải giải được bài toán hài hòa lợi ích. Không để doanh nghiệp bị bó cứng đến mức không đủ động lực duy trì cung ứng; nhưng cũng không thể để lợi ích cục bộ đẩy gánh nặng sang người dân và nền kinh tế. Không thể buông lỏng quản lý dẫn đến buôn lậu, đầu cơ, gian lận; nhưng cũng không thể điều hành theo cách chậm chạp, thiếu cập nhật với diễn biến thị trường thế giới. Đó là bài toán khó, nhưng không thể né tránh.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, một điểm khác rất cần nhấn mạnh là yêu cầu minh bạch thông tin. Trong những thị trường nhạy cảm như xăng dầu, thiếu minh bạch thường là môi trường thuận lợi cho tin đồn, tâm lý hoang mang và đầu cơ. Khi Chính phủ và các cơ quan chức năng thông tin kịp thời, rõ ràng về nguồn cung, dự trữ, giải pháp điều hành và trách nhiệm của các bên, niềm tin thị trường sẽ được củng cố. Mà niềm tin, trong nhiều thời điểm, chính là một “nguồn lực ổn định” không thể đo đếm bằng tiền.

Vì vậy, nói đến Kết luận 14 là phải nhìn rộng hơn câu chuyện kinh tế. Đây còn là vấn đề của năng lực thể chế, của quản trị hiện đại, của khả năng kết hợp giữa điều hành linh hoạt và kiểm soát quyền lực, giữa công cụ thị trường và trách nhiệm công, giữa giải pháp trước mắt và chiến lược lâu dài. Trong một thế giới nhiều biến động, thể chế tốt không chỉ giúp đất nước ứng phó tốt hơn, mà còn giúp xã hội tin tưởng hơn vào năng lực dẫn dắt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tiết kiệm là trách nhiệm công dân

Một điểm rất đáng suy ngẫm từ Kết luận số 14-KL/TW, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đó là bên cạnh yêu cầu điều hành đồng bộ và siết chặt quản lý, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng để bảo đảm ổn định nguồn cung, giảm thiểu biến động tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong nước, hạn chế tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh, đời sống nhân dân, ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh trật tự xã hội.

Chi tiết ấy tưởng như rất quen thuộc, nhưng thực ra chứa đựng một thông điệp lớn: ổn định quốc gia không chỉ là kết quả của các quyết sách từ trên xuống, mà còn là thành quả của ý thức từ dưới lên. Nhà nước có thể dùng công cụ chính sách để điều tiết, nhưng nếu xã hội tiêu dùng thiếu trách nhiệm, nếu mỗi người chỉ nghĩ tới sự tiện lợi ngắn hạn của riêng mình, thì mọi nỗ lực bình ổn cũng sẽ chịu sức ép rất lớn.

Ở đây, tiết kiệm không nên được hiểu theo nghĩa hẹp là thắt lưng buộc bụng hay cắt bỏ những nhu cầu chính đáng. Tiết kiệm trước hết là sử dụng hợp lý. Là đi lại khoa học hơn. Là giảm những chuyến đi không cần thiết. Là ưu tiên phương tiện công cộng khi có điều kiện. Là doanh nghiệp tối ưu hóa logistics, công nghệ, tiêu hao nhiên liệu. Là cơ quan công quyền giảm những khoản chi, những hoạt động phô trương, hình thức, kém hiệu quả. Là cả xã hội cùng hiểu rằng một lít xăng tiết kiệm hôm nay không chỉ là phần chi phí bớt đi của một cá nhân, mà còn là một đóng góp nhỏ vào sự ổn định chung.

Từ lâu, dân tộc ta đã có một nền tảng văn hóa rất sâu về tiết kiệm. Từ câu “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, đến “tích cốc phòng cơ”, đó không chỉ là lời dạy của nếp nhà, mà còn là triết lý ứng xử với nguồn lực trong những giai đoạn nhiều biến động. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng coi tiết kiệm là một phẩm chất đạo đức, gắn với chống lãng phí, chống xa hoa, chống thói quen sử dụng của công, của dân một cách tùy tiện. Trong bối cảnh hôm nay, tinh thần ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Cần phải nói thật rằng, một trong những thách thức của đời sống hiện đại là thói quen tiêu dùng dễ vượt quá nhu cầu thực. Khi điều kiện vật chất tốt hơn, con người cũng dễ chấp nhận sự lãng phí như một điều bình thường. Nhưng trong bối cảnh nền kinh tế cần sức chống chịu cao hơn trước các cú sốc bên ngoài, thói quen ấy cần được điều chỉnh. Điều chỉnh không phải để lùi lại, mà để phát triển bền vững hơn. Một xã hội văn minh không phải là xã hội tiêu dùng nhiều nhất, mà là xã hội biết tiêu dùng thông minh, có trách nhiệm và biết nghĩ cho tương lai.

Tôi cho rằng đây cũng là một vấn đề rất cần được nhấn mạnh trong hoạt động giám sát và truyền thông chính sách. Nếu chỉ nói về giải pháp điều hành mà thiếu vận động xã hội cùng tham gia, chính sách sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả. Nếu chỉ kêu gọi tiết kiệm ở người dân mà khu vực công không làm gương, doanh nghiệp không thay đổi, thì lời kêu gọi ấy sẽ thiếu sức nặng. Bởi thế, tiết kiệm phải là một chuẩn mực chung, không phân biệt khu vực công hay tư, không chỉ là việc của hộ gia đình mà còn là việc của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả hệ thống chính trị.

Từ câu chuyện giá nhiên liệu hôm nay, có thể rút ra một điều lớn hơn: trong thời đại bất định, văn hóa trách nhiệm chính là một phần của sức mạnh quốc gia. Khi mỗi người biết tự điều chỉnh hành vi vì lợi ích chung, xã hội sẽ có thêm sức bền. Khi bộ máy công quyền hành động nhanh, đúng, công khai và nêu gương tiết kiệm, niềm tin xã hội sẽ được củng cố. Khi doanh nghiệp chủ động nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, nền kinh tế sẽ vững hơn trước biến động. Và khi những điều đó gặp nhau, đất nước sẽ không chỉ ứng phó được với một đợt tăng giá nhiên liệu, mà còn trưởng thành hơn về năng lực quản trị và về văn hóa phát triển.

Kết luận số 14-KL/TW vì thế không nên chỉ được đọc như một chỉ đạo điều hành thị trường. Nó cần được hiểu như một thông điệp về phương thức giữ ổn định đất nước trong bối cảnh mới: phải có thể chế đủ mạnh, điều hành đủ linh hoạt, giám sát đủ nghiêm, thị trường đủ minh bạch và xã hội đủ trách nhiệm. Đó là cách một quốc gia không chỉ chống chọi với biến động, mà còn biến biến động thành động lực để hoàn thiện mình.

Trong hành trình phát triển của Việt Nam, sẽ còn nhiều thử thách tương tự phía trước. Nhưng nếu mỗi lần đối diện khó khăn, chúng ta đều biết nhìn từ gốc rễ thể chế, từ kỷ luật thị trường và từ văn hóa trách nhiệm của xã hội, thì mỗi thử thách sẽ không chỉ là áp lực, mà còn là cơ hội để nâng tầm năng lực quốc gia. Và đó có lẽ cũng là ý nghĩa sâu xa nhất của Kết luận 14 trong lúc này: giữ ổn định giá nhiên liệu không chỉ để đi qua một đợt sóng gió, mà để giữ vững nền tảng cho sự phát triển bền vững, tự chủ và nhân văn của đất nước.

Kể từ khi những khó khăn về nguồn cung và giá cả xăng dầu diễn ra do ảnh hưởng từ chiến sự Trung Đông, Đảng và Nhà nước ta đã liên tục chỉ đạo điều hành xăng dầu để không đứt gãy nguồn cung, đảm bảo an ninh năng lượng. Chính phủ đã ban hành 1 nghị định, 2 nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 1 chỉ thị cùng nhiều văn bản, công điện chỉ đạo xử lý các diễn biến mới, thành lập Tổ công tác về an ninh năng lượng để chỉ đạo, điều hành kịp thời trước biến động nhiên liệu. Thủ tướng đã có các cuộc điện đàm, gửi công thư tới lãnh đạo nhiều nước, cũng như làm việc với Đại sứ các nước tại Việt Nam đề nghị hỗ trợ Việt Nam đảm bảo an ninh năng lượng.

>> Mời quý độc giả xem video: Hơn 2.800 cửa hàng bán lẻ xăng dầu sẵn sàng bán xăng E10 sớm 2 tháng để thúc đẩy sử dụng nhiên liệu xanh và giảm phụ thuộc vào xăng khoáng. Video do Báo Tri thức và Cuộc sống thực hiện.
Thanh niên với tương lai đất nước

Thanh niên với tương lai đất nước

Ngày 26/3 năm nay, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tròn 95 năm xây dựng, trưởng thành và cống hiến. Nhìn lại chặng đường vẻ vang ấy, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống của các thế hệ thanh niên Việt Nam.
back to top