Thời sự

Đại hội III Liên hiệp Hội Việt Nam: Khẳng định vị thế trí thức Việt

Đại hội III năm 1993 diễn ra sau 10 năm thành lập, ghi dấu bước phát triển về tổ chức và vị trí của Liên hiệp Hội Việt Nam.

10 năm sau ngày thành lập, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam bước vào Đại hội III với một hệ thống đã mở rộng từ 15 hội thành viên lên 42 hội. Trong những ngày cuối tháng 9/1993, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Đại hội diễn ra ngay sau khi Ban Bí thư xác định Liên hiệp Hội Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội của trí thức Việt Nam.

dai-hoi-3-a.jpg
Đoàn Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam khóa III ra mắt Đại hội. Ảnh tư liệu.

10 năm sau ngày thành lập, 42 hội cùng về một mái nhà

Ngày 27 và 28/9/1993, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội. Có 184 đại biểu đại diện cho 42 hội thành viên về dự Đại hội, gồm 34 hội ngành toàn quốc và 8 Liên hiệp Hội địa phương.

Con số này cho thấy sự phát triển nhanh của hệ thống tổ chức trong 10 năm đầu. Từ 15 hội thành viên khi thành lập năm 1983, đến Đại hội II năm 1988, Liên hiệp Hội có 23 hội thành viên. Năm 1993, con số đã tăng lên 42, gồm 34 hội ngành toàn quốc và 8 Liên hiệp Hội địa phương.

Đại hội III diễn ra trong những năm đầu thập niên 1990, khi tình hình thế giới có những biến động lớn sau sự tan rã của Liên Xô và những thay đổi ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Những biến động đó tác động đến hoạt động và sự phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên. Trong nước, công cuộc Đổi mới tiếp tục được triển khai, đặt ra những yêu cầu mới đối với khoa học, kỹ thuật và đội ngũ trí thức.

Đại hội có sự tham dự của Tổng Bí thư Đỗ Mười, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS.TS Nguyễn Đình Tứ, GS Nguyễn Đức Bình, các đồng chí Vũ Oanh, Lê Quang Đạo, Nguyễn Khánh; đại diện các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều bộ, ban, ngành ở Trung ương và Hà Nội cùng một số khách nước ngoài.

Tại Đại hội, các đại biểu thảo luận và thông qua báo cáo của Hội đồng Trung ương khóa II cùng những văn kiện quan trọng khác. Hội đồng Trung ương khóa III gồm 95 ủy viên được bầu.

Đoàn Chủ tịch khóa III gồm 11 ủy viên. GS.TS Hà Học Trạc tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch; GS Phan Huy Lê, TS Phạm Sĩ Liêm và GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng là các Phó Chủ tịch; PGS.TS Hồ Uy Liêm giữ chức Tổng Thư ký. Đại hội cũng bầu Ủy ban Kiểm tra gồm 5 người, do ông Trần Cư làm Chủ nhiệm.

GS.VS Trần Đại Nghĩa tiếp tục được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Liên hiệp Hội Việt Nam. Đây là vị trí ông đã được suy tôn tại Đại hội II và tiếp tục đảm nhiệm trong khóa III.

Một dấu mốc lớn: Liên hiệp Hội được xác định là tổ chức chính trị - xã hội của trí thức

Năm 1993 là một năm có ý nghĩa đặc biệt đối với vị trí của Liên hiệp Hội Việt Nam. Trước đó, ngày 20/11/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Thông báo 37-TB/TW về tổ chức và hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam, trong đó đặt yêu cầu thể chế hóa chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội về khoa học và kỹ thuật của các hội.

Đến ngày 31/8/1993, ngay trước Đại hội III, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Thông báo 52-TB/TW. Văn bản này lần đầu tiên khẳng định: “Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội của trí thức Việt Nam”.

Thông báo cũng xác định chức năng của Liên hiệp Hội là tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức của đất nước, hướng vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vị trí của đội ngũ trí thức được đặt trong mối quan hệ với liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Thông báo 52-TB/TW xuất hiện trước Đại hội III chưa đầy một tháng. Vì vậy, khi 184 đại biểu đại diện 42 hội thành viên tập trung tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày 27/9/1993, Đại hội diễn ra trong bối cảnh vị trí của chính tổ chức này vừa được xác định rõ hơn trong hệ thống chính trị.

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Tổng Bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh: “Hoạt động của Liên hiệp hội và các hội thành viên đã góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hợp tác trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham gia vào việc biên soạn hoặc đảm nhận vai trò tư vấn, phản biện và giám định các dự thảo về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, các dự án kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ ở tầm quốc gia.

Nhiệm vụ đặt ra trong chặng đường tới cũng rất nặng nề, có thể nói còn nặng nề hơn trước. Phải tăng cường ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hoá, xây dựng dựng đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh với nhịp độ cao và liên tục, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, đem lại cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân. Đội ngũ đông đảo trí thức nước nhà thuộc Liên hiệp Hội phải đảm nhiệm vai trò xứng đáng trong việc thực hiện sự nghiệp trọng đại đó”.

Trong lời phát biểu chào mừng Đại hội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Sự phát triển nhanh và lớn như vậy chứng tỏ hình thức tổ chức các hội khoa học và kỹ thuật đã đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số cán bộ khoa học và kỹ thuật, của giới trí thức. Đây là một hình thức tổ chức dân chủ, tự nguyện, một tổ chức phi chính phủ mang tính chất tự chủ, tự quản. Hoạt động trong các hội khoa học và kỹ thuật, các đồng chí không bị ràng buộc và ngăn cách bởi sự phân chia hành chính. Đó là tính ưu việt của hình thức tổ chức của Liên hiệp Hội”.

Những nội dung được nêu tại Đại hội cho thấy hoạt động của Liên hiệp Hội lúc này đã bao gồm nhiều lĩnh vực: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phổ biến kiến thức và tư vấn, phản biện, giám định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Biểu trưng mới của sự đoàn kết, vươn xa

Đại hội III cũng ghi một dấu mốc khá đặc biệt trong lịch sử tổ chức: lần đầu tiên biểu trưng của Liên hiệp Hội Việt Nam xuất hiện tại Đại hội.

Biểu trưng sử dụng hình tam giác đều được tạo bởi ba chữ V, đặt trong hình tròn có dòng chữ “LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM – VUSTA”. Hình tam giác tượng trưng cho ba lĩnh vực hoạt động chủ yếu là khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Ba chữ V đồng thời tạo thành hình tam giác và gợi hình ảnh những cánh chim, thể hiện ý nghĩa đoàn kết để hoạt động khoa học, kỹ thuật phát triển, vươn cao và vươn xa.

Mẫu biểu trưng này do họa sĩ Nguyễn Duy Lẫm sáng tác và đoạt giải Nhất cuộc thi sáng tạo được Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức trước thềm Đại hội.

Cùng với việc mở rộng về tổ chức, nhiệm kỳ III tiếp tục chứng kiến sự phát triển của các Liên hiệp Hội địa phương. Tại thời điểm Đại hội III, hệ thống có 34 hội ngành toàn quốc và 8 Liên hiệp Hội địa phương. Đến cuối nhiệm kỳ, số hội khoa học và kỹ thuật ở Trung ương tăng lên 40, số Liên hiệp Hội địa phương tăng từ 8 lên 23 tỉnh, thành phố.

Tháng 12/1993, Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga được thành lập, mở thêm một hướng tập hợp trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Liên hiệp Hội Việt Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện. Sau công trình thủy điện Yaly trên sông Sê San, tỉnh Gia Lai, đầu năm 1993, Liên hiệp Hội Việt Nam tiếp tục thực hiện việc thẩm tra tài liệu kỹ thuật đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam do hãng Nippon Koei của Nhật Bản lập.

Đây là những hoạt động đầu tiên của công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội trong quá trình hình thành và phát triển chức năng này của Liên hiệp Hội Việt Nam.

Từ Đại hội III, Liên hiệp Hội Việt Nam bước sang chặng đường mới với vị trí được xác định rõ hơn, mạng lưới tổ chức tiếp tục mở rộng và vai trò của đội ngũ trí thức khoa học, kỹ thuật được đặt trong những nhiệm vụ ngày càng rộng hơn của đất nước.

Bài viết nằm trong tuyến bài hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.

back to top