Thời sự

Đại hội II Liên hiệp Hội Việt Nam: Dấu mốc xác lập vai trò tư vấn, phản biện

Đại hội II năm 1988 ghi dấu bước phát triển mới của Liên hiệp Hội Việt Nam, với vai trò tư vấn, phản biện và mạng lưới hội thành viên ngày càng mở rộng.

Ngày 12/5/1988, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào những năm đầu thực hiện đường lối Đổi mới, với những yêu cầu mới đặt ra đối với khoa học, kỹ thuật và đội ngũ trí thức.

dai-hoi-2.jpg
Các đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ II. Ảnh tư liệu

Lần đầu tiên xác lập vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội

Đại hội II có sự tham gia của đại biểu 18 hội ngành toàn quốc và 5 liên hiệp hội địa phương. Tham gia Đoàn Chủ tọa Đại hội có Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS.VS Trần Đại Nghĩa cùng nhiều nhà khoa học. Đại hội cũng có sự tham dự của các trưởng đoàn đại biểu Hội Kiến thức Liên Xô, Hội Phổ biến kiến thức Bungari và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Liên Xô.

vo-nguyen-giap.jpg
Ảnh tư liệu.

Sự kiện diễn ra sau Đại hội VI của Đảng năm 1986, khi công cuộc Đổi mới mở ra một thời kỳ mới trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh sản xuất được mở rộng và đời sống xã hội có những chuyển động mới, các tổ chức nhân dân, trong đó có các hội khoa học - công nghệ, cũng có điều kiện phát triển.

Sau 5 năm kể từ Đại hội I, hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam đã có bước phát triển về tổ chức. Tại Đại hội II, đại biểu của 18 hội ngành toàn quốc và 5 liên hiệp hội địa phương tham gia Đại hội. Những con số này cho thấy mạng lưới tổ chức đã được mở rộng so với thời điểm thành lập.

Tại Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đánh giá cao đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật của đất nước. Việt Nam khi đó có hàng chục vạn cán bộ khoa học, kỹ thuật, trong đó có nhiều nhà khoa học, kỹ thuật tài năng, đã có đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và sự nghiệp khoa học, kỹ thuật của đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề nghị các hội khoa học - kỹ thuật phối hợp với ngành giáo dục và các phương tiện thông tin, báo chí, truyền thông đại chúng tạo ra một môi trường xã hội rộng lớn, để đông đảo quần chúng nhân dân lao động trực tiếp tham gia và được đào tạo về khoa học, kỹ thuật.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh, trọng tâm công tác của Hội là tạo ra được phong trào quần chúng hoạt động khoa học kỹ thuật, góp phần đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống, đặc biệt là chức năng phản biện và giám định xã hội.

“Các hội khoa học - kỹ thuật cũng phải trả lời câu hỏi: mình đã góp phần như thế nào vào việc phản biện, tư vấn để ngăn chặn việc xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ gây lãng phí tiền của nhưng chất lượng rất thấp, thậm chí có cái không dùng được… Với sức mạnh tổng hợp liên ngành và cách làm việc hợp tác năng động, Liên hiệp hội cũng có thể làm tốt chức năng phản biện và giám định xã hội của hội”, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cho hay.

Trước đó, tại Chỉ thị 35-CT/TW ngày 11/4/1988 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cũng đã nêu rõ, một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Liên hiệp hội Việt Nam là “ tư vấn về chính sách khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho Đảng và Nhà nước”, đồng thời yêu cầu các cơ quan hữu quan tạo điều kiện để Liên hiệp hội Việt Nam “thực hiện được chức năng phản biện và giám định xã hội về khoa học - kỹ thuật của một hội quần chúng”.

Trên cơ sở nội dung Chỉ thị 35-CT/TW và ý kiến phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên, trong Điều lệ của Liên hiệp hội Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II thông qua ngày 12/5/1988 có đoạn ghi, một trong những nhiệm vụ của Liên hiệp hội Việt Nam là “ Tư vấn, phản biện và giám định xã hội về khoa học - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước”.

Kiện toàn bộ máy tổ chức, nhiều dấu ấn trong hoạt động

Tại Đại hội II, GS.VS Trần Đại Nghĩa được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Liên hiệp Hội Việt Nam. Ông là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Hội Việt Nam, đảm nhiệm cương vị này trong nhiệm kỳ đầu, kể từ khi tổ chức được thành lập năm 1983.

ha-ngoc-trac.jpg
GS.TS Hà Học Trạc được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam nhiệm kỳ II. Ảnh tư liệu.

Đại hội đồng thời bầu Hội đồng Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam gồm 49 ủy viên, đại diện cho các hội thành viên, cơ quan Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam và một số cơ quan hữu quan. Hội đồng Trung ương bầu Đoàn Chủ tịch và Ủy ban Kiểm tra.

GS.TS Hà Học Trạc được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam nhiệm kỳ II. TS Trịnh Văn Tự giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký; TS Phạm Sỹ Liêm là Phó Chủ tịch. Đoàn Chủ tịch còn có GS.TSKH Vũ Tuyên Hoàng, GS.TSKH Nguyễn Trọng Hiệp, GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn, TS Mai Kỷ, PGS.TS Nguyễn An Lương và GS Phạm Xuân Nam.

Với sự nhất trí cao, Đại hội đã thông qua báo cáo của Ban Chấp hành, Điều lệ (sửa đổi và bổ sung), Quy chế tổ chức và hoạt động của Liên hiệp hội Việt Nam. Kể từ sau Đại hội II, Liên hiệp hội Việt Nam có Hội đồng Trung ương và Hội đồng Trung ương có Đoàn Chủ tịch.

Bước sang nhiệm kỳ II, hoạt động của Liên hiệp Hội có thêm những dấu ấn mới. Từ năm 1990, Liên hiệp Hội phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Trung ương Đoàn tổ chức hai năm một lần Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc. Hai năm sau, Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam được thành lập. Cũng trong nhiệm kỳ này, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội bắt đầu được triển khai; năm 1992, Liên hiệp Hội thực hiện tư vấn, phản biện luận chứng kinh tế - kỹ thuật công trình thủy điện Yaly trên sông Sê San, đầu năm 1993 thẩm tra tài liệu kỹ thuật đường dây tải điện 500 kV Bắc - Nam.

Tại Đại hội II, Liên hiệp Hội Việt Nam có 23 hội thành viên, gồm 18 hội ngành toàn quốc và 5 liên hiệp hội địa phương.

Trong nhiệm kỳ II, mạng lưới các hội thành viên tiếp tục được mở rộng. Năm 1988, Hội Địa lý Việt Nam và Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam được thành lập. Năm 1989 có Hội Tin học Việt Nam, Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam và Hội Hóa học Việt Nam. Năm 1990, thêm các hội trong lĩnh vực trắc địa - bản đồ - viễn thám, ngôn ngữ học, điện lực và tâm lý - giáo dục; năm 1991 có các hội Khoa học Đất, Chăn nuôi, Thú y và Dân tộc học; năm 1992 có Hội Khoa học - Kỹ thuật Nhiệt, Hội Bảo quản nông sản thực phẩm và Hội Khoa học - Kỹ thuật Biển.

Cùng với sự phát triển của hệ thống hội thành viên, hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội tiếp tục được triển khai với sự tham gia của các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực.

back to top