Thời sự

Vị tướng dẫn đầu đoàn quân trở về Hà Nội ngày 10/10/1954

“Càng tiến sâu vào trong lòng Hà Nội, càng khó nén nổi xúc động, mắt nhòa lệ vì niềm vui gặp mặt”, Trung tướng Vương Thừa Vũ nhớ lại ngày tiếp quản Thủ đô.

“Năm cửa ô đón mừng đoàn quân trở về/ Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào/… Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu”. Những lời trong bài hát “Tiến về Hà Nội” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác năm 1949 náo nức, như khúc ca khải hoàn.

Ngày 10/10/1954, đoàn quân chiến thắng tiến vào tiếp quản Thủ đô. Dẫn đầu đoàn chỉ huy là Trung tướng Vương Thừa Vũ (khi đó ông mang quân hàm Thiếu tướng), người từng chỉ huy Mặt trận Hà Nội trong 60 ngày đêm cuối năm 1946, đầu năm 1947. Với ông, ngày trở về ấy là cuộc hội ngộ đặc biệt với thành phố mà 8 năm trước ông cùng đồng đội đã rời đi giữa những ngày khói lửa.

vuong-thua-vu1.jpg
Trung tướng Vương Thừa Vũ dẫn đầu Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô bên hồ Hoàn Kiếm trong sự chào đón của các thiếu nữ Hà Nội. Ảnh tư liệu

Hà Nội là rừng cờ hoa, mắt nhòa lệ vì niềm vui gặp mặt

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneva được ký kết, việc tiếp quản Hà Nội được triển khai theo kế hoạch. Theo Nghị quyết ngày 17/9/1954 của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội được thành lập. Trung tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh sư đoàn Quân tiên phong được giao làm Chủ tịch. Bác sĩ Trần Duy Hưng làm Phó chủ tịch. Ủy ban Quân chính có nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý thành phố.

Sáng sớm 10/10, người dân Hà Nội đã đổ ra các tuyến phố chờ đón đoàn quân trở về. Những lá cờ đỏ sao vàng, hoa và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trên các con đường đoàn quân đi qua.

8h sáng từ phía Tây, các chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô đã dẫn đầu đội hình bộ binh diễu hành qua Kim Mã, Hàng Đẫy, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang vào thành Hà Nội.

Phía Nam, đội hình bộ binh xuất phát từ Việt Nam học xá qua Bạch Mai, phố Huế, Tràng Tiền, vòng về Đồn Thủy và Đấu Xảo. Tiếp theo đội hình bộ binh là đoàn xe cơ giới và pháo binh do xe của Trung tướng Vương Thừa Vũ, nguyên chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội dẫn đầu, đoàn xe xuất phát từ Bạch Mai, qua phố Huế, Bờ Hồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, tiến ra Cửa Bắc.

giai-phong-thu-do.png
Đại đoàn 308 tiến về tiếp quản Thủ đô, tháng 10/1954. Ảnh tư liệu

Trước đó, từ ngày 8/10, các đơn vị đã tiến vào ngoại thành. Ngày 9/10 quân đội ta theo nhiều đường từ ngoại thành tiến vào nội thành qua năm cửa ô tiếp nhận nhà Ga, phủ Toàn quyền, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, phủ Thống sứ… 16h cùng ngày, quân đội Liên hiệp Pháp rời khỏi thành phố, rút sang phía Bắc cầu Long Biên. 16h30, quân đội ta hoàn toàn kiểm soát thành phố Hà Nội trong nguyên vẹn và an toàn. Cổng chào, khẩu hiệu dựng lên khắp các đường phố, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên khắp các tầng nhà.

15h ngày 10/10, lễ chào cờ được tổ chức tại sân Cột Cờ. Hàng vạn người dân Hà Nội cùng các đơn vị quân đội có mặt trong buổi lễ. Sau lễ chào cờ, Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ đọc Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng.

Trong khoảnh khắc ấy, người chỉ huy từng cùng quân dân Hà Nội chiến đấu trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến đứng trước đồng bào Thủ đô đọc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng một Hà Nội hòa bình, ổn định và phát triển.

Ngày trở về của Trung tướng Vương Thừa Vũ càng đặc biệt khi trong đội hình Đại đoàn 308 có Trung đoàn Thủ đô. Đơn vị này được “khai sinh” trong cuộc chiến đấu “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại Hà Nội suốt 60 ngày đêm khói lửa mùa đông năm 1946. 8 năm trước, họ rời thành phố theo kế hoạch bảo toàn lực lượng để cuộc kháng chiến có thể tiếp tục lâu dài. Ngày 10/10/1954, họ trở lại trong đội hình của đoàn quân chiến thắng.

Trong bài viết “Trưởng thành trong chiến đấu” xuất bản năm 1985, Trung tướng Vương Thừa Vũ kể lại: “Hôm nay Hà Nội là rừng cờ hoa. Càng tiến sâu vào trong lòng Hà Nội, càng khó nén nổi xúc động, mắt nhòa lệ vì niềm vui gặp mặt, niềm vui về lại Thủ đô. Nhất là các cán bộ, chiến sĩ năm xưa đã chiến đấu trên mảnh đất này khi được lệnh ra đi đã hứa với Hà Nội sẽ trở về: “Ra đi hẹn một ngày về, Ba Đình còn đó, người thề còn đây”. Lời hứa đó hôm nay đã thành sự thật!”.

Danh tướng quân sự tài hoa, người con ưu tú của Thủ đô Hà Nội

Trung tướng Vương Thừa Vũ (1910-1980), tên thật Nguyễn Văn Đồi, quê tại Vĩnh Ninh, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông theo gia đình sang Trung Quốc sinh sống và làm ăn. Xa quê nhưng trong ông luôn đau đáu ý chí trở về nước tham gia sự nghiệp cứu nước. Ông tìm thầy học võ, kiên trì rèn luyện võ nghệ, chuẩn bị cho con đường hoạt động cách mạng sau này.

giai-phong-thu-do.jpg
Một đơn vị của Trung đoàn Thủ đô với lá cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng tham dự Lễ chào cờ đầu tiên trong Ngày giải phóng Thủ đô, diễn ra tại sân Cột Cờ (nay là Đoan Môn - Hoàng thành Thăng Long) vào lúc 15h, ngày 10/10/1954. Ảnh: Tư liệu TTXVN.

Năm 1940, ông tìm cách liên lạc với các tổ chức cách mạng và những nhà yêu nước Việt Nam nhằm tìm đường trở về nước hoạt động. Một năm sau, khi về nước tham gia phong trào cứu nước, ông bị thực dân Pháp bắt và giam giữ. Trong những năm tháng tù đày, ông vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước những đòn tra tấn của kẻ thù. Cùng các đồng chí, ông vừa bí mật tiến hành công tác binh vận, xây dựng lực lượng, vừa tổ chức huấn luyện quân sự ngay trong nhà tù. Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng.

Tháng 3/1945, ông vượt ngục thành công. Sau đó, ông tham gia cuộc bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ nhưng không thành. Ông trở về Hòa Bình, gây dựng cơ sở cách mạng và tổ chức huấn luyện quân sự.

Nhờ năng lực và kinh nghiệm hoạt động, ông lần lượt được giao đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng. Trong những năm 1946-1947, ông giữ cương vị Khu trưởng Khu 11 - Khu đặc biệt Hà Nội; sau đó làm Khu phó Khu 4, rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên (1947-1948). Từ năm 1949 đến 1954, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308.

Tháng 9/1954, ông được giao làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội, đảm nhiệm cương vị này đến tháng 11/1954. Từ năm 1955 đến 1963, ông lần lượt làm Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn và Tư lệnh Quân khu 3. Năm 1964, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ cương vị này đến năm 1980. Ông được phong quân hàm Đại tá năm 1948, Thiếu tướng năm 1954 và Trung tướng năm 1974.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung tướng Vương Thừa Vũ tham gia, chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Ông cũng là một trong những vị tướng gắn bó sâu sắc với Hà Nội từ những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến. Theo tư liệu về cuộc đời ông, Vương Thừa Vũ đã năm lần rời Hà Nội để tham gia chiến đấu và năm lần trở về Thủ đô.

Không chỉ có những đóng góp trên chiến trường, Trung tướng Vương Thừa Vũ còn dành nhiều tâm huyết cho sự phát triển của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại.

Trung tướng Vương Thừa Vũ để lại nhiều tài liệu có giá trị về huấn luyện, quản lý bộ đội và nghệ thuật tác chiến, tiêu biểu như Hà Nội 60 ngày khói lửa; Những ngày ở chiến khu 2; Mấy vấn đề về quản lý bộ đội; Mấy kinh nghiệm huấn luyện quân sự; Kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu; Cắt dạ dày Điện Biên Phủ; Trưởng thành trong chiến đấu; Những chặng đường chiến đấu… Ông còn để lại hàng trăm trang bản thảo viết tay về các quân, binh chủng cùng nhiều bài viết đăng trên báo, tạp chí. Những tài liệu này là nguồn tư liệu có giá trị, được cán bộ các cấp trong toàn quân nghiên cứu, vận dụng vào công tác huấn luyện và chiến đấu.

Tên của Trung tướng Vương Thừa Vũ được đặt cho nhiều tuyến đường tại Hà Nội và một số địa phương. Tại Hà Nội, phố Vương Thừa Vũ nằm trên địa bàn khu vực Thanh Xuân, nối đường Trường Chinh với phố Hoàng Văn Thái.

Bài viết nằm trong tuyến bài: "Những danh nhân trên biển tên đường phố", nhằm tôn vinh những trí thức lớn làm rạng danh đất nước và giúp thế hệ hôm nay hiểu thêm về cuộc đời, sự cống hiến của những danh nhân có tên trên những con phố quen thuộc mỗi ngày.

back to top