Sức khoẻ 360

Phẫu thuật thành công ca hẹp khí quản, tim bẩm sinh đặc biệt phức tạp

Ở dị tật tim bẩm sinh phức tạp và hẹp khí quản đi kèm, nếu chỉ sửa dị tật tim mà không xử lý đồng thời khí quản, nguy cơ suy hô hấp, tử vong sau mổ rất cao.

Bệnh viện Nhi đồng 2 vừa phẫu thuật thành công ca hẹp khí quản, tim bẩm sinh đặc biệt phức tạp. Thành công của ca bệnh là minh chứng rõ nét cho sự phát triển mạnh mẽ của phẫu thuật tim bẩm sinh và phẫu thuật khí quản tại Bệnh viện Nhi đồng 2, dưới định hướng chiến lược của Ban Giám đốc bệnh viện, đặc biệt là TTƯT.BS.CK2 Trịnh Hữu Tùng, Giám đốc Bệnh viện, trong việc đầu tư đào tạo chuyên sâu, xây dựng đội ngũ và phát triển các kỹ thuật mũi nhọn.

Theo thông tin từ ThS.BS Nguyễn Trần Việt Tánh, Khoa Hồi sức phẫu thuật tim mạch lồng ngực - phẫu thuật viên chính cho bệnh nhi, kíp mổ vừa phẫu thuật thành công cho một bệnh nhi 5 tuổi mắc hẹp khí quản bẩm sinh kèm tứ chứng Fallot rất nặng - một trường hợp hiếm gặp, được đánh giá là “khó chồng khó”, tiềm ẩn nguy cơ tử vong rất cao nếu không được can thiệp toàn diện.

Bệnh nhi là Triệu M. A. (nữ, 5 tuổi), được chẩn đoán bệnh ngay từ sau sinh. Trong những năm đầu đời, bệnh nhi nhiều lần nhập viện vì viêm phổi, khò khè kéo dài. Do tổn thương phối hợp phức tạp giữa tim bẩm sinh và đường thở, trong nhiều năm bệnh nhi chủ yếu được theo dõi bảo tồn tại các cơ sở y tế vì chưa có phương án can thiệp phù hợp.

Đầu năm 2025, tình trạng tím tiến triển nặng buộc các bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng 2 phải đặt stent đường thoát thất phải (RVOT) nhằm ổn định huyết động. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời, và bệnh nhi vẫn đứng trước nguy cơ suy hô hấp, suy tim nếu không được can thiệp triệt để.

Sau quá trình hội chẩn chuyên sâu đa chuyên khoa, các bác sĩ của bệnh viện đã quyết định thực hiện một cuộc phẫu thuật triệt để trong cùng một lần mổ, bao gồm tạo hình khí quản và sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot.

hep-khi-quan.png

Theo bác sĩ Tánh, thách thức lớn nhất của ca bệnh không chỉ nằm ở dị tật tim bẩm sinh phức tạp, mà còn ở hẹp khí quản bẩm sinh đi kèm. Nếu chỉ sửa dị tật tim mà không xử lý đồng thời khí quản, nguy cơ suy hô hấp và tử vong sau mổ là rất cao.

Mức độ khó của ca phẫu thuật tiếp tục gia tăng khi ê-kíp phải phẫu tích sâu vào trung thất để xử lý các tuần hoàn bàng hệ chủ – phổi. Trên kế hoạch hội chẩn ban đầu, các nhánh này được dự kiến hợp lưu vào động mạch phổi, tuy nhiên khi phẫu tích thực tế, giải phẫu không thuận lợi để hợp lưu an toàn, buộc phẫu thuật viên phải chủ động thay đổi chiến lược và cột các nhánh bàng hệ.

Bên cạnh đó, stent RVOT đặt trước đó bị dính chặt vào cấu trúc vòng van động mạch chủ do đặc điểm giải phẫu bất thường. Khi lấy stent, đã xảy ra tổn thương vòng van, buộc ê-kíp phải xử trí ngay trong mổ. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong các bước này cũng có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tính mạng bệnh nhi.

Một điểm đặc biệt về mặt kỹ thuật của ca bệnh này là việc tạo hình và mở rộng hai nhánh động mạch phổi vốn rất nhỏ và không cân xứng (nhánh động mạch phổi trái chỉ khoảng 3 mm, bằng gần 1/3 kích thước nhánh phải), trong bối cảnh đường thoát thất phải cũng rất nhỏ, gần giống bệnh lý teo phổi kèm thông liên thất.

Mục tiêu của phẫu thuật là mở rộng hai nhánh động mạch phổi sao cho sau sửa chữa đạt kích thước tương đương, khoảng 10 mm, nhằm đảm bảo tưới máu phổi cân đối lâu dài. Đây là thao tác rất khó, đòi hỏi phẫu thuật viên phải cân nhắc chính xác từng milimét, tránh nguy cơ hẹp tồn lưu hoặc quá tải một bên phổi.

Mặc dù ca mổ được thực hiện thành công, sau mổ bệnh nhi vẫn gặp biến chứng xuất huyết phổi kéo dài, gây nhiều khó khăn trong quá trình hồi sức và cai máy thở. Trước tình huống này, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã triển khai đánh giá toàn diện, bao gồm chụp CT kiểm tra sau mổ, nội soi hô hấp, chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) và hội chẩn toàn viện đa chuyên khoa để tìm nguyên nhân và hướng xử trí tối ưu.

Nhờ sự phối hợp chặt chẽ, kiên trì và thống nhất về chuyên môn, tình trạng xuất huyết phổi đã được kiểm soát hoàn toàn. Hiện nay, bệnh nhi đã cai được máy thở, tự thở ổn định, tiếp tục được theo dõi và chăm sóc hậu phẫu.

back to top