Thời sự

Đại hội IV Liên hiệp Hội Việt Nam: Trí thức đồng hành trong công nghiệp hóa

Đại hội IV năm 1999 diễn ra khi đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ghi dấu bước phát triển về tổ chức, phản biện và hội nhập của đội ngũ trí thức.

Đại hội IV Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam diễn ra trong những năm cuối thế kỷ XX, khi đất nước chuyển mạnh sang thời kỳ đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khoa học, công nghệ được xác định là một động lực quan trọng của phát triển.

dai-hoi-4-9824.jpg
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Liên hiệp Hội Việt Nam. Ảnh: Tư liệu.

Được trao Huân chương Độc lập hạng Nhất cho những đóng góp, cống hiến

Ngày 8 và 9/1/1999, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Đại hội có 213 đại biểu, đại diện cho 40 hội ngành toàn quốc và 19 Liên hiệp hội địa phương.

Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước đã cơ bản ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây cũng là thời điểm khoa học và công nghệ ngày càng được đặt ở vị trí trực tiếp hơn trong chiến lược phát triển đất nước.

Trước Đại hội IV, Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII tháng 12/1996 đã thông qua nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000. Nghị quyết xác định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội.

Đáng chú ý, lần đầu tiên Liên hiệp Hội Việt Nam được đề cập trực tiếp và tường minh trong một nghị quyết của Trung ương. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII.

Trong đó nêu rõ:“Củng cố và tăng cường hoạt động của các hội khoa học và kỹ thuật nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng trí thức. Phát huy vai trò chính trị - xã hội của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật ở trung ương và địa phương trong việc phổ biến và ứng dụng kiến thức khoa học vào sản xuất và đời sống, trong nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ và bảo vệ môi trường cũng như trong công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các hội khoa học và kỹ thuật”.

Tại Đại hội, Liên hiệp Hội đón Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Lê Quang Đạo, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương Đặng Hữu cùng nhiều lãnh đạo các bộ, ban, ngành.

Một dấu mốc đáng nhớ cũng diễn ra tại Đại hội, đó là Liên hiệp Hội Việt Nam được trao Huân chương Độc lập hạng Nhất. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thay mặt Đảng và Nhà nước trao phần thưởng này cho Liên hiệp Hội. Đây là sự ghi nhận cho những đóng góp của Liên hiệp Hội và các hội thành viên đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới.

Chỉ thị 45: vị trí của Liên hiệp Hội được đặt trong nhiệm vụ lớn của đất nước

Nếu Đại hội III diễn ra ngay sau dấu mốc Ban Bí thư xác định Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của trí thức Việt Nam, thì Đại hội IV đến sau một văn kiện quan trọng tiếp tục định vị vai trò đó trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Ngày 11/11/1998, Bộ Chính trị khóa VIII ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Văn kiện này được báo cáo trình Đại hội IV xác định là cơ sở quan trọng cho hoạt động của Liên hiệp Hội trong nhiệm kỳ mới.

Chỉ thị khẳng định “Liên hiệp Hội là một tổ chức chính trị – xã hội của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam, cùng với các đoàn thể chính trị – xã hội khác tạo thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Liên hiệp Hội gồm các hội khoa học và kỹ thuật ngành và các Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật địa phương tự nguyện gia nhập Liên hiệp Hội”.

Chỉ thị 45 đồng thời nêu rõ vị trí, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Liên hiệp Hội, nhấn mạnh yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với tổ chức này.

Mạng lưới tổ chức tiếp tục mở rộng

Đại hội IV bầu Hội đồng Trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam gồm 133 ủy viên. Tại Hội nghị lần thứ nhất, Hội đồng Trung ương khóa IV bầu Đoàn Chủ tịch gồm 17 ủy viên, do GS.VS Vũ Tuyên Hoàng làm Chủ tịch; PGS.TS Hồ Uy Liêm làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký; GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng và GS.TS Trần Ngọc Hiên làm Phó Chủ tịch. TS Tô Bá Trọng giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra.

Trong nhiệm kỳ IV (1999-2004), mạng lưới Liên hiệp hội Việt Nam tiếp tục được mở rộng với 16 hội ngành toàn quốc và 13 Liên hiệp hội địa phương được thành lập và trở thành hội thành viên.

Trong số các hội ngành được thành lập có Hội Khoa học - Kỹ thuật Mã số mã vạch Việt Nam và Hội Thử nghiệm không phá huỷ Việt Nam năm 1999; Hội Thông tin - Tư liệu khoa học và công nghệ Việt Nam, Hội Sở hữu công nghiệp Việt Nam, Hội Khoa học - Kỹ thuật Đo lường Việt Nam năm 2000; Hội Khoa học - Kỹ thuật Địa - Vật lý Việt Nam, Hội Bảo vệ thực vật Việt Nam và Hội Giống cây trồng Việt Nam năm 2001. Những năm sau đó tiếp tục có Hội Khoa học - Kỹ thuật An toàn thực phẩm, Hội Thiết bị y tế, Hội Khoa học - Công nghệ Lương thực và Thực phẩm, Hội Khoa học - Kỹ thuật An toàn và Vệ sinh lao động, Hội Các phòng thử nghiệm Việt Nam, Hội Dược học Việt Nam, Hội Lạnh và Điều hòa không khí Việt Nam và Hội Trí thức khoa học và công nghệ trẻ Việt Nam.

Ở địa phương, mạng lưới cũng tiếp tục mở rộng với sự ra đời của các Liên hiệp hội Thái Bình, Bắc Giang, Yên Bái, Lào Cai, Đắk Lắk, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bình Thuận, Quảng Trị, Bình Dương, Vĩnh Phúc, Tây Ninh và Long An trong nhiệm kỳ.

Phản biện đi vào những công trình lớn, mở rộng cánh cửa hội nhập

Một trong những điểm đáng chú ý của nhiệm kỳ IV là hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội có thêm cơ sở pháp lý và được triển khai trên nhiều vấn đề cụ thể.

Ngày 1/8/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 14/2000/CT-TTg về triển khai các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam. Tiếp đó, ngày 30/1/2002, Thủ tướng ban hành Quyết định 22/2002/QĐ-TTg về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp Hội Việt Nam, được xác định là bước cụ thể hóa Chỉ thị 14.

Trên cơ sở đó, Liên hiệp Hội tổ chức nhiều hoạt động tư vấn, thẩm định. Trong các năm sau Đại hội IV, tổ chức này tham gia tư vấn, thẩm định 5 bộ hồ sơ kinh tế - kỹ thuật liên quan đến các dự án thủy điện trên sông Đà, trong đó có Dự án khả thi công trình Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, quy hoạch bậc thang thủy điện trên sông Đà và các hồ sơ nghiên cứu, bổ sung liên quan đến Thủy điện Sơn La.

Hoạt động phản biện cũng được thực hiện đối với một số vấn đề khác. Liên hiệp Hội tập hợp ý kiến chuyên gia về phương án tuyến đường Hồ Chí Minh qua khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương; tham gia thảo luận về dự án thay nước Hồ Tây; phản biện các dự án quy hoạch lũ đồng bằng sông Cửu Long, công trình thủy điện Thác Đầu Đẳng, xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quân đội Việt Nam và một số vấn đề về phòng chống dịch cúm A/H5N1.

Sau khi Quyết định 22/2002/QĐ-TTg được ban hành, cuối năm 2002, Liên hiệp Hội tổ chức các hội thảo theo vùng tại Cần Thơ, Phú Yên, Hà Tĩnh và hội thảo toàn quốc tại Đà Nẵng.

Năm 2000, lần đầu tiên trong số 10 công trình khoa học do Liên hiệp Hội Việt Nam tuyển chọn và giới thiệu đã có 7 công trình được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ, chiếm tỷ lệ 1/3 trong tổng số các công trình đạt vinh dự này.

Ngày 25/3/2003, Hội nghị lần thứ 5 Hội đồng Trung ương thông qua chương trình hành động triển khai Quyết định 22; Liên hiệp Hội đồng thời thành lập Ban công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội cùng 19 Hội đồng tư vấn chuyên ngành.

Nhiệm kỳ IV cũng chứng kiến những bước phát triển đáng chú ý trong hoạt động đối ngoại và hội nhập nghề nghiệp. Năm 2000, Liên hiệp Hội lần đầu tiên tổ chức thành công Hội nghị lần thứ 18 Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (CAFEO-18) tại Hà Nội. Năm 2004, lần đầu tiên Liên hiệp Hội tổ chức lễ trao Chứng chỉ Kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN cho 19 kỹ sư Việt Nam do Ủy ban đăng bạ kỹ sư ASEAN cấp.

Trong lĩnh vực thông tin, đầu năm 2002, Bản tin hoạt động các hội khoa học và kỹ thuật ra số đầu tiên; cũng trong thời gian này, trang tin điện tử của Liên hiệp Hội tại vusta.org.vn chính thức hoạt động. Đến cuối nhiệm kỳ IV, Liên hiệp Hội và các hội thành viên có gần 150 tờ báo, tạp chí và ấn phẩm định kỳ khác.

Ngày 12/6/2002, Đoàn Chủ tịch Hội đồng Trung ương quyết nghị chọn ngày 26/3 hằng năm để kỷ niệm Ngày thành lập Liên hiệp Hội Việt Nam. Nhân dịp này, Đoàn Chủ tịch cũng quyết nghị ban hành Huy chương “Vì sự nghiệp các hội khoa học và kỹ thuật” dành cho các cán bộ, hội viên đã lập nhiều thành tích và đóng góp xuất sắc vào việc củng cố, phát triển và đẩy mạnh hoạt động hội.

Đại hội IV khép lại một nhiệm kỳ gắn với những thay đổi rõ nét về tổ chức và phương thức hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam. Đến cuối nhiệm kỳ IV, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hoạt động của Liên hiệp Hội được Trung ương tiếp tục nhấn mạnh.

Ngày 9/7/2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Thông báo 145-TB/TW, kết luận về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 45-CT/TW đối với Liên hiệp Hội Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2010. Đây là một trong những cơ sở quan trọng để Liên hiệp Hội tiếp tục củng cố tổ chức, mở rộng hoạt động và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong những năm tiếp theo.

Bài viết nằm trong tuyến bài hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Liên hiệp Hội Việt Nam, nhiệm kỳ 2026-2031.

Khởi tố vợ chồng Hải Sapa TV

Khởi tố vợ chồng Hải Sapa TV

Vũ Hoàng Hải (Hải Sapa TV) cùng vợ vừa bị khởi tố do bán thịt trâu sấy sản xuất từ thịt trâu đông lạnh nhưng quảng cáo “thịt trâu sấy đặc sản Tây Bắc”.
back to top