Thời sự

Xét xử văng mặt Chủ tịch Công ty Cây xanh Công Minh: Bỏ trốn không né được trách nhiệm hình sự

Nguyễn Công Minh bị cáo buộc điều hành hệ thống doanh nghiệp gian lận đấu thầu tại 1.218 dự án, gây thiệt hại hơn 790 tỷ đồng, hưởng lợi cá nhân 264 tỷ đồng.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao vừa ban hành cáo trạng, truy tố Nguyễn Công Minh, Chủ tịch hệ thống Cây xanh Công Minh, cùng 46 đồng phạm về tội Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Ông Minh hiện bỏ trốn, đang bị truy nã và được cơ quan tố tụng thực hiện thủ tục truy tố vắng mặt.

0999.jpg
Bị can Nguyễn Công Minh đang bỏ trốn, bị truy nã vắng mặt.

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, TS.LS Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp cho rằng, không thể để việc bỏ trốn ra nước ngoài trở thành cách né tránh trách nhiệm hình sự, song, xét xử vắng mặt phải đi đôi với việc bảo đảm quyền bào chữa và đánh giá chứng cứ khách quan, thận trọng.

Bỏ trốn ra nước ngoài không né tránh được trách nhiệm hình sự

- Ông đánh giá như thế nào về tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án?

Theo cáo trạng, giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023, hệ thống doanh nghiệp liên quan đến Công Minh đã trúng thầu hơn 1.200 dự án tại 38 tỉnh, thành phố theo địa giới hành chính trước đây, với tổng giá trị hợp đồng hơn 3.900 tỷ đồng. Thiệt hại được xác định trong cáo trạng là gần 791 tỷ đồng. Riêng Nguyễn Công Minh bị cáo buộc hưởng lợi cá nhân gần 265 tỷ đồng. Đây là những con số đặc biệt lớn, cho thấy quy mô và mức độ nghiêm trọng của vụ án.

Điều đáng chú ý là những sai phạm bị cáo buộc không chỉ diễn ra ở một gói thầu hay một địa phương mà có dấu hiệu được tổ chức thành phương thức hoạt động kéo dài, với sự phân công giữa nhiều doanh nghiệp, chi nhánh và cá nhân.

Theo nội dung cáo trạng được công bố, các thủ đoạn bị cáo buộc bao gồm tham gia từ khâu khảo sát, lập dự án, xây dựng dự toán, chuẩn bị hồ sơ mời thầu; bố trí các doanh nghiệp trong cùng hệ thống làm “quân xanh” để tạo cạnh tranh hình thức; đưa ra các tiêu chí có thể hạn chế sự tham gia của nhà thầu khác; thỏa thuận phân chia địa bàn và nâng giá một số vật tư, cây xanh để tạo nguồn tiền chênh lệch. Cáo trạng còn đề cập việc tổ chức phân chia dòng tiền giữa các bộ phận trong hệ thống.

Những hành vi này cho thấy sự xâm phạm nghiêm trọng tính công bằng, minh bạch của hoạt động đấu thầu và hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước. Hậu quả không chỉ là thiệt hại tài chính mà còn làm méo mó môi trường kinh doanh, gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến niềm tin của xã hội đối với công tác quản lý đầu tư công và hoạt động đấu thầu.

Một vấn đề khác cần được quan tâm là trách nhiệm của những người có chức vụ, quyền hạn tại các cơ quan, đơn vị liên quan. Nếu có cá nhân lợi dụng chức vụ để can thiệp, tạo điều kiện cho nhà thầu không đủ điều kiện hoặc cố tình làm trái quy định nhằm hưởng lợi, phải làm rõ trách nhiệm của từng người, phân biệt giữa sai sót nghiệp vụ, thiếu trách nhiệm và hành vi cố ý vi phạm pháp luật để trục lợi.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng cáo trạng là văn bản thể hiện quan điểm truy tố của Viện kiểm sát trên cơ sở kết quả điều tra, không phải bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Tòa án phải xem xét toàn diện chứng cứ, lời khai, tài liệu và ý kiến của các bên tại phiên tòa trước khi quyết định trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.

- Nguyễn Công Minh đã bỏ trốn ra nước ngoài từ năm 2023 nhưng vẫn bị đề nghị truy tố vắng mặt. Trước đây, bị can bỏ trốn phải tạm đình chỉ điều tra, chờ khi bắt được mới xử lý. Vì sao hiện nay pháp luật lại cho phép tiếp tục điều tra, truy tố và xét xử vắng mặt?

Đây là một thay đổi đáng chú ý của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Luật số 99/2025/QH15 đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan tại Điều 233 và Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự, cho phép cơ quan điều tra kết luận điều tra đề nghị truy tố và Viện kiểm sát truy tố vắng mặt trong những trường hợp luật định. Đồng thời, khoản 33 Điều 1 của Luật này sửa đổi Điều 290 về sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa, bổ sung trường hợp bị cáo bỏ trốn hoặc không xác định được bị cáo ở đâu mà việc truy nã không có kết quả vào các trường hợp có thể xét xử vắng mặt.

Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 1/7/2025 đã quy định cụ thể, việc xử lý vắng mặt có thể được áp dụng khi bị can, bị cáo trốn hoặc không biết đang ở đâu và việc truy nã không có kết quả; hoặc khi người đó đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Việc áp dụng phải đáp ứng các điều kiện luật định, chứ không phải cứ xuất cảnh ra nước ngoài là đương nhiên bị điều tra, truy tố hoặc xét xử vắng mặt.

Theo tôi, sự thay đổi này là cần thiết. Nếu một người bị buộc tội có thể làm đình trệ toàn bộ quá trình giải quyết vụ án chỉ bằng cách bỏ trốn ra nước ngoài, quyền lực của pháp luật sẽ bị hạn chế, quyền lợi của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại khó được bảo vệ kịp thời.

Tuy nhiên, không nên hiểu rằng quy định mới cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng bỏ qua sự hiện diện của bị cáo trong mọi trường hợp. Xét xử vắng mặt vẫn là một ngoại lệ, phải được áp dụng theo đúng điều kiện, trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

- Khi điều tra, truy tố và xét xử vắng mặt, làm thế nào để bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, tránh tình trạng kết tội một chiều khi họ không có mặt để giải thích hoặc phản bác chứng cứ?

Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm phải luôn đi đôi với bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự.

Theo tôi, cần xác định rõ ba nguyên tắc. Thứ nhất, chỉ xử lý vắng mặt khi có đủ căn cứ và đáp ứng điều kiện luật định. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ tình trạng vắng mặt của bị can, bị cáo, thực hiện các biện pháp xác minh, truy nã hoặc yêu cầu hợp tác quốc tế theo quy định, đồng thời xác định có thuộc trường hợp được phép xử lý vắng mặt hay không.

Không thể lấy lý do người đó không có mặt để bỏ qua những vấn đề chưa được làm rõ, cũng không thể suy luận rằng bỏ trốn đồng nghĩa với việc thừa nhận toàn bộ cáo buộc. Hành vi bỏ trốn có thể là tình tiết cần được đánh giá trong bối cảnh vụ án, nhưng không thay thế nghĩa vụ chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ hai, phải bảo đảm thực chất quyền bào chữa. Trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt, cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện các thủ tục bảo đảm quyền bào chữa theo luật, bao gồm việc thông báo cho người đại diện hoặc thân nhân về quyền yêu cầu người bào chữa trong trường hợp luật quy định; nếu không có người bào chữa được yêu cầu trong trường hợp thuộc diện chỉ định thì phải thực hiện thủ tục chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các điều khoản liên quan.

Đối với người đang ở nước ngoài, việc bảo đảm quyền bào chữa càng cần được chú trọng vì có thể phát sinh khó khăn trong việc nhận thông báo, tiếp cận tài liệu, trao đổi với luật sư hoặc cung cấp chứng cứ gỡ tội.

Thứ ba, phải đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, khách quan và thận trọng. Trong các vụ án đấu thầu, việc xác định thiệt hại thường phức tạp, liên quan đến giá trị dự toán, giá trúng thầu, khối lượng thực tế, chất lượng công trình, giá thị trường, chi phí hợp lý và những khoản tiền bị cho là thu lợi bất chính.

Đối với các tài liệu điện tử, thư điện tử, dữ liệu kế toán, hồ sơ đấu thầu và dòng tiền, cần bảo đảm nguồn gốc, tính toàn vẹn, tính hợp pháp của việc thu thập và khả năng kiểm tra, đối chiếu.

Tôi cho rằng một bản án được tuyên vắng mặt chỉ có thể bảo đảm tính thuyết phục khi được xây dựng trên hệ thống chứng cứ hợp pháp, đầy đủ, có khả năng kiểm chứng và được xem xét thông qua một thủ tục tố tụng công bằng.

655.jpg
TS.LS Đặng Văn Cường.

Hiệu quả thu hồi người và tài sản phải dựa trên cơ chế hợp tác quốc tế

- Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo vẫn ở nước ngoài thì việc đưa người đó về Việt Nam thi hành án được thực hiện như thế nào?

Cần phân biệt giữa việc bản án có hiệu lực pháp luật và việc tổ chức thi hành bản án đối với người đang ở nước ngoài. Hai vấn đề này có liên quan nhưng không đồng nhất.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án phải chấp hành hình phạt và các nghĩa vụ khác theo quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, nếu người đó đang ở nước ngoài, việc đưa họ trở về Việt Nam không thể chỉ dựa vào bản án trong nước mà tự động thực hiện được.

Cơ quan chức năng phải căn cứ pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế có liên quan, thỏa thuận hợp tác và pháp luật của quốc gia nơi người đó đang hiện diện để lựa chọn biện pháp phù hợp. Tùy từng trường hợp, có thể đặt ra yêu cầu dẫn độ, hợp tác quốc tế trong truy bắt, chuyển giao người bị kết án hoặc các cơ chế hỗ trợ pháp lý khác nếu có căn cứ và đáp ứng điều kiện pháp luật.

Đối với vụ án Cây xanh Công Minh, Nguyễn Công Minh đã bị truy nã và cơ quan điều tra đã đề nghị truy tố vắng mặt. Việc truy tố vắng mặt không làm mất đi yêu cầu tiếp tục truy bắt bị can. Sau khi có bản án và nếu có đủ căn cứ pháp lý, các cơ quan chức năng có thể tiếp tục phối hợp với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài để xem xét việc dẫn độ hoặc áp dụng cơ chế hợp tác phù hợp.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng việc xác minh, truy tìm, phong tỏa, kê biên và thu hồi tài sản có liên quan theo đúng quy định. Trong những vụ án kinh tế có thiệt hại lớn, việc thu hồi tài sản và bảo đảm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu tài sản được chuyển ra nước ngoài hoặc đứng tên người khác, việc xử lý phải dựa trên chứng cứ về nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu và các thủ tục hợp tác quốc tế có liên quan.

Theo tôi, không nên để việc bỏ trốn ra nước ngoài trở thành một cách thức né tránh trách nhiệm hình sự hoặc tẩu tán tài sản. Tuy nhiên, hiệu quả thu hồi người và tài sản phải dựa trên cơ chế hợp tác quốc tế, chứng cứ pháp lý và sự phối hợp của cơ quan có thẩm quyền, chứ không thể chỉ dựa vào quyết định tố tụng trong nước.

Xin cảm ơn TS.LS Đặng Văn Cường về cuộc trao đổi trên!

>>> Mời độc giả xem thêm video Chuyên án ma túy liên quan diễn viên Kiều Thanh:

back to top