Thời sự

Từ bản hiến pháp đầu tiên đến nền móng chính sách an sinh vì con người

Từ những điều khoản giản dị bản Hiến pháp đầu tiên, tư tưởng nhân văn trở thành mạch nguồn xuyên suốt quá trình xây dựng pháp luật, chính sách an sinh xã hội.

Kỷ niệm 80 năm ngày Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946 (9/11/1946 – 9/11/2026) là dịp nhìn lại một lựa chọn có ý nghĩa nền tảng của Nhà nước Việt Nam mới: đặt Nhân dân vào vị trí chủ thể của quyền lực, lấy tự do, bình đẳng và hạnh phúc của con người làm đích đến. Từ những điều khoản giản dị của bản Hiến pháp đầu tiên, tư tưởng nhân văn ấy đã trở thành mạch nguồn xuyên suốt trong quá trình xây dựng pháp luật và chính sách an sinh xã hội của đất nước.

99999.jpg
Phiên khai mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI

Từ buổi đầu lập quốc: Hiến pháp được viết bằng khát vọng của Nhân dân

80 năm trước, ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không đơn thuần là một sự kiện pháp lý. Giữa bộn bề của một đất nước vừa giành độc lập, phải đối diện với giặc đói, giặc dốt và những nguy cơ đe dọa nền độc lập non trẻ, việc xây dựng Hiến pháp thể hiện quyết tâm xác lập một trật tự chính trị mới: quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và phải phục vụ Nhân dân.

Điều 1 của Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Trong một xã hội vừa bước ra khỏi chế độ thuộc địa, phong kiến, sự khẳng định ấy mang ý nghĩa giải phóng sâu sắc. Người dân không còn chỉ là đối tượng chịu sự cai trị, mà trở thành chủ thể của quốc gia, có phẩm giá, có quyền và có trách nhiệm cùng kiến tạo tương lai đất nước.

Với 7 chương, 70 điều, Hiến pháp năm 1946 đặt ra những nguyên tắc tiến bộ về bình đẳng trước pháp luật, tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, quyền bầu cử và ứng cử. Đặc biệt, Hiến pháp ghi nhận phụ nữ ngang quyền với nam giới về mọi phương diện; người già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ; trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng. Những quy định đó cho thấy tinh thần nhân đạo không dừng ở lời tuyên bố, mà đã bước đầu được thể hiện thành trách nhiệm của Nhà nước đối với những người cần được quan tâm, bảo vệ.

Không nên áp những khái niệm và thiết chế an sinh xã hội hoàn chỉnh của hôm nay vào một văn bản ra đời cách đây 8 thập kỷ. Nhưng chính trong hoàn cảnh nguồn lực vô cùng hạn hẹp, việc hiến định các quyền bình đẳng và sự chăm lo đối với người yếu thế càng cho thấy tầm nhìn của những người đặt nền móng lập hiến. Độc lập dân tộc, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phải gắn với tự do và hạnh phúc thực chất của Nhân dân. Một nền cộng hòa chỉ thực sự có ý nghĩa khi thành quả độc lập được chuyển hóa thành những điều kiện sống tốt đẹp hơn cho mỗi người.

Từ tinh thần nhân văn đến hệ thống chính sách an sinh xã hội

Lịch sử lập hiến và lập pháp Việt Nam cho thấy một sự tiếp nối đáng trân trọng: từ những nguyên tắc được xác lập năm 1946, trách nhiệm chăm lo đời sống Nhân dân từng bước được cụ thể hóa theo điều kiện của mỗi giai đoạn cách mạng. Trong kháng chiến, đó là chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với nước, cùng những nỗ lực chống đói, xóa mù chữ, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Trong hòa bình và xây dựng đất nước, phạm vi chính sách được mở rộng sang việc làm, giáo dục, y tế, bảo hiểm, trợ giúp xã hội và giảm nghèo.

Điều đáng nói là tư tưởng an sinh ở Việt Nam không chỉ được hình thành từ yêu cầu khắc phục khó khăn trước mắt. Sâu xa hơn, đó là quan niệm về nghĩa vụ của cộng đồng và trách nhiệm của Nhà nước đối với con người. Chăm lo người có công là đạo lý uống nước nhớ nguồn; hỗ trợ người nghèo và người gặp rủi ro là biểu hiện của đoàn kết xã hội; tạo cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe và tham gia đời sống văn hóa là đầu tư cho năng lực phát triển lâu dài của quốc gia.

Qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013, các quyền và cơ chế bảo đảm quyền ngày càng được bổ sung, phát triển. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục đánh dấu bước tiến quan trọng khi dành Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời khẳng định công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội tại Điều 34. Từ những cam kết ban đầu về bình đẳng và giúp đỡ người yếu thế, tư duy lập hiến đã tiến đến việc xác định an sinh xã hội như một quyền hiến định cần được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện.

Trên nền tảng đó, hệ thống pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, người có công, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi và trợ giúp xã hội ngày càng được hoàn thiện. Những thành tựu giảm nghèo, mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế, phát triển giáo dục và chăm sóc sức khỏe là minh chứng cho nỗ lực đưa các giá trị hiến định vào đời sống. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng khoảng cách thụ hưởng giữa các vùng miền, những khó khăn của lao động phi chính thức, người cao tuổi không có lương hưu, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương vẫn đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách.

Một chính sách an sinh tốt không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng văn bản đã ban hành hay tổng kinh phí đã phân bổ. Thước đo cuối cùng phải là người dân có tiếp cận được chính sách hay không, có được bảo vệ kịp thời trước rủi ro hay không, và có thêm cơ hội vươn lên bằng chính năng lực của mình hay không. Từ góc nhìn ấy, tinh thần của Hiến pháp năm 1946 vẫn nguyên giá trị: pháp luật phải bắt đầu từ cuộc sống, và hiệu quả của pháp luật phải được kiểm chứng trong cuộc sống.

7888.jpg
PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Tiếp nối di sản lập hiến: không để ai bị bỏ lại phía sau

Kỷ niệm 80 năm bản Hiến pháp đầu tiên cũng là dịp suy nghĩ về trách nhiệm lập pháp trong một giai đoạn phát triển mới. Đất nước đang đứng trước những biến đổi sâu sắc do già hóa dân số, chuyển đổi số, dịch chuyển lao động, biến đổi khí hậu và những hình thức bất bình đẳng mới. Nếu chỉ giải quyết an sinh theo tư duy hỗ trợ khi khó khăn đã xảy ra thì chưa đủ. Chính sách cần chuyển mạnh sang phòng ngừa rủi ro, mở rộng cơ hội và nâng cao khả năng tự chủ của mỗi người dân.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện một hệ thống an sinh đa tầng, bao trùm, bền vững, có khả năng bảo vệ người dân ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đời. Cùng với việc bảo đảm nguồn lực, phải đơn giản hóa thủ tục, kết nối dữ liệu, tổ chức thực thi minh bạch để người cần hỗ trợ không phải đi qua quá nhiều cánh cửa mới tiếp cận được quyền lợi chính đáng. Chuyển đổi số trong an sinh phải làm cho chính sách gần dân hơn, chứ không tạo thêm rào cản đối với người già, người nghèo hoặc người hạn chế kỹ năng số.

Thứ hai, cần nhìn nhận an sinh xã hội trong mối quan hệ hữu cơ với giáo dục, y tế, nhà ở, việc làm và văn hóa. Con người không chỉ cần được bảo đảm những điều kiện tối thiểu để tồn tại, mà còn cần cơ hội phát triển toàn diện, tham gia sáng tạo và thụ hưởng những giá trị tinh thần. Một đứa trẻ ở vùng khó khăn được học tập tốt, một người lao động có điều kiện nâng cao kỹ năng, một người cao tuổi được chăm sóc cả sức khỏe thể chất lẫn đời sống tinh thần: đó chính là những biểu hiện cụ thể của một nền an sinh lấy con người làm trung tâm.

Thứ ba, phải đặt chất lượng thực thi và trách nhiệm giải trình vào vị trí trung tâm. Mỗi dự án luật, mỗi chính sách mới cần được đánh giá đầy đủ về tác động đối với nhóm yếu thế, về khả năng tiếp cận bình đẳng và về nguồn lực bảo đảm. Quốc hội không chỉ làm luật mà còn phải giám sát để những quyền được ghi trong Hiến pháp thực sự trở thành quyền được thực hiện. Sự tham gia, phản hồi và giám sát của Nhân dân là điều kiện để chính sách đúng hơn, gần đời sống hơn và có sức sống lâu bền hơn.

Từ Hiến pháp năm 1946 đến hôm nay là một hành trình dài với nhiều thử thách, nhưng có một giá trị không thay đổi: Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản lớn nhất của bản Hiến pháp đầu tiên không chỉ nằm ở những điều khoản đã đi vào lịch sử, mà còn ở lời nhắc nhở đối với mỗi thế hệ làm chính sách: đằng sau từng quy định pháp luật là số phận, quyền lợi và hy vọng của con người.

80 năm trước, giữa muôn vàn gian khó, những người đại biểu của Nhân dân đã lựa chọn đặt nền móng cho một nhà nước dân chủ bằng Hiến pháp. 80 năm sau, cách thiết thực nhất để tri ân lựa chọn ấy là tiếp tục xây dựng một hệ thống pháp luật nhân văn, công bằng, khả thi; để sự phát triển không chỉ được đo bằng những con số tăng trưởng, mà còn bằng mức độ an toàn, phẩm giá, cơ hội và hạnh phúc của mỗi người dân. Đó cũng là cách để tinh thần Hiến pháp năm 1946 tiếp tục sống trong từng quyết sách của hôm nay và mai sau.

back to top