Thời sự

TSKH Nghiêm Vũ Khải: Trợ lý pháp lý AI giúp dân tránh rủi ro, bị lừa đảo

TSKH Nghiêm Vũ Khải đề xuất xây dựng trợ lý pháp lý số quốc gia bằng AI, giúp người dân tra cứu pháp luật, cảnh báo sớm rủi ro và chủ động bảo vệ quyền lợi.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống bên lề Hội thảo góp ý dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), TSKH Nghiêm Vũ Khải, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại biểu Quốc hội khóa XI, XII, XIV, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng, dự thảo Luật cần tiếp tục đổi mới theo hướng lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật và phát triển năng lực pháp lý của công dân.

Đặc biệt, cần bổ sung chính sách xây dựng hệ thống trợ lý pháp lý số quốc gia trên nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI), giúp người dân tra cứu, hỏi đáp, nhận cảnh báo rủi ro pháp lý và tiếp cận thông tin pháp luật chính thống nhanh chóng, thuận tiện.

gs-nghiem-vu-khai.jpg
TSKH. Nghiêm Vũ Khải trả lời phóng viên Báo Tri thức và Cuộc sống. Ảnh: Mai Loan.

Chuyển từ “phổ biến pháp luật” sang xây dựng văn hóa pháp lý

- Ông đánh giá thế nào về cách tiếp cận của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)?

Theo tôi, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ là đạo luật điều chỉnh một hoạt động quản lý nhà nước, mà còn có ý nghĩa nền tảng trong xây dựng văn hóa pháp lý, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với pháp luật và hiện thực hóa các quyền hiến định của công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, phát triển kinh tế số, xã hội số và công dân số, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không thể chỉ dừng ở việc truyền đạt nội dung các quy định pháp luật.

Mục tiêu phải hướng tới hình thành ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, đồng thời xây dựng năng lực tiếp cận, hiểu biết, vận dụng và bảo vệ pháp luật của mỗi người dân.

Nói cách khác, phổ biến, giáo dục pháp luật phải trở thành một bộ phận hữu cơ của quá trình phát triển con người, phát triển xã hội và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.

Tôi đánh giá cao việc dự thảo Luật đã bổ sung nhiều nội dung mới như truyền thông chính sách, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và mở rộng xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là những bước tiến phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả lâu dài, theo tôi cần có một tư tưởng xuyên suốt: mọi quy định của Luật phải hướng tới phục vụ người dân, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân và phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng, thực thi và giám sát pháp luật.

- Theo ông, tư tưởng này cần được thể hiện như thế nào trong các quy định cụ thể của Luật?

Từ cách tiếp cận đó, các quy định về chính sách của Nhà nước, xã hội hóa, nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật và quản lý nhà nước cần được thiết kế thành một chỉnh thể thống nhất.

Trong đó, chính sách của Nhà nước giữ vai trò định hướng và bảo đảm các điều kiện thực hiện; xã hội hóa là phương thức huy động nguồn lực của toàn xã hội; các nguyên tắc của Luật là những chuẩn mực bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng quyền con người và quyền công dân.

Còn quản lý nhà nước phải trở thành cơ chế tổ chức, điều phối và bảo đảm trách nhiệm giải trình của các cơ quan có thẩm quyền.

Theo tôi, đây cũng là cơ sở để chuyển mạnh từ tư duy “phổ biến pháp luật” sang tư duy xây dựng văn hóa pháp luật và phát triển năng lực pháp lý của công dân.

Một xã hội thượng tôn pháp luật không chỉ được hình thành bằng hệ thống chế tài nghiêm minh mà trước hết bằng nhận thức, niềm tin và ý thức tự giác của mỗi người dân đối với Hiến pháp và pháp luật.

Vì vậy, mục tiêu cao nhất của Luật không chỉ là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nơi pháp luật thực sự trở thành nền tảng của quản trị quốc gia và là chỗ dựa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân.

Theo tôi, việc hoàn thiện các quy định tại Điều 3, Điều 4, Điều 5 và Điều 6 cũng là cơ hội để xác lập rõ hơn triết lý của đạo luật trong giai đoạn phát triển mới: đưa pháp luật đến với Nhân dân, vì Nhân dân và bằng sự tham gia tích cực của Nhân dân.

Cần trợ lý pháp lý số quốc gia trên nền tảng AI

- Một đề xuất đáng chú ý của ông là xây dựng hệ thống trợ lý pháp lý số quốc gia bằng AI. Vì sao cần đặt vấn đề này trong Luật sửa đổi?

Trong bối cảnh hiện nay, hằng ngày người dân phải đối mặt với nhiều thủ đoạn lừa đảo xuyên biên giới, giả mạo cơ quan nhà nước, các vấn đề liên quan đến hợp đồng điện tử, đầu tư tài chính, tiền mã hóa, trí tuệ nhân tạo giả mạo (deepfake), đánh cắp dữ liệu cá nhân...

Trong nhiều trường hợp, người dân không cố ý vi phạm pháp luật mà do không có khả năng tiếp cận kịp thời với nguồn tư vấn pháp luật chính thống. Đây chính là khoảng trống mà Luật sửa đổi nên giải quyết.

Theo tôi, có thể bổ sung một chính sách mới tại Điều 3 theo hướng Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng số phục vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng hệ thống trợ lý pháp lý số quốc gia trên nền tảng AI để hỗ trợ mọi tổ chức, cá nhân tra cứu, hỏi đáp, cảnh báo rủi ro pháp lý và tiếp cận thông tin pháp luật chính thống một cách nhanh chóng, chính xác, thuận tiện và bình đẳng.

Quy định này sẽ tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ có thể đầu tư xây dựng một hệ thống Legal AI quốc gia.

- Hệ thống này cần được thiết kế với những chức năng nào để thực sự hữu ích với người dân, thưa ông?

Tôi cho rằng trước hết cần bổ sung quyền của công dân. Mọi công dân phải có quyền được tiếp cận miễn phí các cơ sở dữ liệu pháp luật chính thức; được sử dụng các nền tảng số và hệ thống AI do Nhà nước cung cấp hoặc công nhận để tra cứu, hỏi đáp, tiếp nhận cảnh báo và được hướng dẫn thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Điều này sẽ chuyển tư duy từ “Nhà nước phổ biến” sang “công dân có quyền được hỗ trợ pháp lý”.

Hệ thống hỗ trợ pháp lý số cần được cung cấp trên môi trường Internet và các thiết bị di động, hoạt động liên tục, miễn phí đối với các nội dung phổ biến pháp luật.

Các chức năng cơ bản có thể gồm tra cứu văn bản pháp luật; giải thích quy định pháp luật bằng ngôn ngữ dễ hiểu; hỏi đáp bằng AI; cảnh báo nguy cơ vi phạm pháp luật; cảnh báo các phương thức, thủ đoạn lừa đảo mới; hướng dẫn thủ tục hành chính.

Trong đó, chất lượng và độ tin cậy của thông tin là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Dữ liệu pháp luật phải được cập nhật đầy đủ, thống nhất, chính xác; đồng thời phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và kiểm soát chất lượng nội dung do hệ thống AI cung cấp.

Không chỉ giải thích luật, AI phải cảnh báo rủi ro

- Ông có đề xuất bổ sung riêng nhiệm vụ cảnh báo pháp lý?

Theo tôi, đây là chức năng rất cần thiết trong điều kiện xã hội số hiện nay.

Cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cần có trách nhiệm thường xuyên công bố và cập nhật các cảnh báo pháp lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật mới phát sinh; các phương thức, thủ đoạn lừa đảo sử dụng công nghệ cao; những rủi ro pháp lý trong giao dịch điện tử, thương mại điện tử, tài chính số và các lĩnh vực khác có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Người dân không chỉ cần biết một quy định pháp luật là gì mà còn cần được cảnh báo trước về những nguy cơ có thể gặp phải.

Trong kỷ nguyên AI, câu hỏi cần đặt ra là: làm thế nào để bất cứ người dân nào, ở bất cứ thời điểm nào, đều có thể hỏi về pháp luật và nhận được câu trả lời chính xác, dễ hiểu, đáng tin cậy ngay khi cần.

Đó chính là sự chuyển đổi từ “phổ biến kiến thức pháp luật” sang “bảo đảm năng lực tiếp cận công lý bằng công nghệ số”.

- Trong phát biểu tham luận, ông còn đề cập khả năng ghép Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật với Luật Trợ giúp pháp lý thành một đạo luật. Vì sao ông đặt vấn đề này?

Nếu nhìn theo chuỗi bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân thì hai hoạt động này thực chất là hai giai đoạn của cùng một quá trình.

Phổ biến, giáo dục pháp luật giúp người dân biết pháp luật, biết quyền, nghĩa vụ và cách ứng xử hợp pháp. Trợ giúp pháp lý giúp người dân thực hiện các quyền đó khi gặp khó khăn hoặc tranh chấp.

Quá trình này có thể diễn đạt thành một chuỗi logic: Biết pháp luật → Hiểu pháp luật → Vận dụng pháp luật → Được hỗ trợ thực hiện pháp luật → Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Theo cách tiếp cận này, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý không phải là hai hoạt động tách rời mà là hai mắt xích liên tiếp của cùng một chính sách bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Vì vậy, việc nghiên cứu khả năng kết nối, thậm chí ghép hai đạo luật này thành một đạo luật cần được xem xét từ góc độ bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân.

Quan trọng nhất vẫn là làm sao để pháp luật thực sự đến với người dân, giúp người dân hiểu, vận dụng và bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi đó, những chính sách được quy định trong Luật mới thực sự đi vào cuộc sống.

- Trân trọng cảm ơn TSKH Nghiêm Vũ Khải!

Mời quý độc giả xem video TSKH. Nghiêm Vũ Khải góp ý dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Thực hiện: Mai Loan.
back to top