Thời sự

Trách nhiệm pháp lý trong phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo

Luật mới về AI tại Việt Nam quy định rõ trách nhiệm bồi thường và xử phạt vi phạm, thúc đẩy phát triển AI an toàn, bền vững.

Chiều 5/1, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo Công bố Lệnh của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam công bố các Luật đã được Quốc hội khoá XV thông qua. Trong đó có Luật Trí tuệ nhân tạo (AI). Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2026.

THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐỐI VỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Theo đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, Luật Trí tuệ nhân tạo ra đời nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng và Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với các điều ước quốc tế. Luật được xây dựng trên nguyên tắc vừa quản lý các rủi ro, vừa thúc đẩy phát triển và đổi mới sáng tạo đối với trí tuệ nhân tạo.

1098158210186388066.jpg
Văn phòng Chủ tịch nước công bố Lệnh của Chủ tịch nước với các Luật được Quốc hội khoá XV thông qua.

Xây dựng Luật Trí tuệ nhân tạo theo hướng là luật khung, tạo hành lang pháp lý đồng bộ và linh hoạt cho phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo một cách an toàn, tin cậy và bền vững. Bảo đảm tính khả thi, không chồng chéo với pháp luật hiện hành; chỉ quy định những vấn đề cốt lõi, mang tính nguyên tắc, không làm thay đổi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các bộ, ngành.

Luật Trí tuệ nhân tạo quy định cơ chế quản lý dựa trên mức độ rủi ro của hệ thống AI, phân loại thành ba cấp độ: rủi ro cao, rủi ro trung bình và rủi ro thấp, dựa trên tiêu chí về mức độ tác động đến quyền con người, an toàn, an ninh, phạm vi người sử dụng và quy mô ảnh hưởng của hệ thống.

Ngoài ra, Luật còn thiết lập các quy định về quản lý và xử lý sự cố, quy trình đánh giá sự phù hợp bắt buộc đối với hệ thống rủi ro cao trước khi đưa vào sử dụng, nhằm bảo đảm an toàn và tuân thủ pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật Trí tuệ nhân tạo quy định việc thiết lập Cơ sở dữ liệu quốc gia về AI tại Trung tâm dữ liệu quốc gia theo nguyên tắc mở và an toàn, đồng thời khuyến khích chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và khu vực tư nhân. Đặc biệt, Nhà nước ưu tiên nguồn lực để làm chủ công nghệ cốt lõi, phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn Tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, cũng như thúc đẩy mã nguồn mở nhằm bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian số. Các ứng dụng AI trong lĩnh vực thiết yếu bắt buộc phải triển khai trên hạ tầng quốc gia để đảm bảo an ninh và khả năng kiểm soát.

QUY ĐỊNH RÕ TRÁCH NHIỆM KHI THỰC HIỆN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Đáng chú ý, Luật quy định rõ về hoạt động thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trí tuệ nhân tạo. Theo đó, hoạt động thanh tra chuyên ngành về trí tuệ nhân tạo được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra. Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân.

Quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên liên quan trong quá trình thanh tra, kiểm tra. Các hành vi vi phạm, tùy theo tính chất và mức độ, sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Đặc biệt, Luật quy định rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự do hệ thống trí tuệ nhân tạo gây ra, phân định trách nhiệm giữa nhà phát triển, nhà cung cấp và bên triển khai.

ai-1755141760548217838646.jpg

Cụ thể, tại Điều 29 về xử lý vi phạm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến trí tuệ nhân tạo, tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm thì bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao được quản lý, vận hành và sử dụng đúng quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại thì bên triển khai phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Sau khi bồi thường, bên triển khai yêu cầu nhà cung cấp, nhà phát triển hoặc các bên liên quan hoàn trả khoản tiền bồi thường nếu có thỏa thuận giữa các bên.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều này được miễn trừ trong các trường hợp: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo bị bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì bên thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp bên triển khai, nhà cung cấp có lỗi trong việc để hệ thống bị xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.

Chính phủ quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm do hệ thống trí tuệ nhân tạo gây ra.

back to top