Thời sự

PGS.TS Vũ Thanh Ca đề xuất giải pháp ứng phó sạt lở, lũ quét hiệu quả

PGS.TS Vũ Thanh Ca chia sẻ các giải pháp căn cơ để giảm thiểu thiệt hại do sạt lở đất, lũ quét, bao gồm lập bản đồ rủi ro và nâng cao cảnh báo.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Vũ Thanh Ca, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho hay, trong những năm gần đây, lũ lụt, sạt lở đất, lũ quét và lũ ống xảy ra ngày càng thường xuyên, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, đây là hiện tượng chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố. Để giảm thiệt hại, cần những giải pháp căn cơ thay vì chỉ quy kết nguyên nhân.

vu-thanh-ca.jpg
PGS.TS Vũ Thanh Ca, Khoa Môi trường, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội,

Không phải cứ sạt lở đất là do phá rừng

PGS.TS Vũ Thanh Ca cho hay, rừng cung cấp rất nhiều dịch vụ môi trường và hệ sinh thái. Phải thừa nhận thực tế, biến đổi khí hậu đang làm nước biển ấm hơn. Các nghiên cứu cho thấy Biển Đông đang ấm lên nhanh và trong khoảng thời gian từ năm 2003 tới 2017, nhiệt độ nước mặt Biển Đông tăng với tốc độ khoảng 0,31 độ C một thập kỷ. Nhiệt độ nước mặt biển cao sẽ làm lượng bốc hơi mạnh hơn, tức là có nhiều hơi nước hơn và gây ra các trận bão và các trận mưa còn khủng khiếp hơn.

Nếu rừng bị phá, nước mưa rơi xuống mặt đất sẽ chảy nhanh, xói mòn mạnh, làm trôi lớp đất màu mỡ và tạo các rãnh xói trên mặt đất, lâu ngày sẽ gây ra sạt lở đất. Do vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy phá rừng làm gia tăng nguy cơ sạt lở đất.

Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, không phải cứ có rừng tự nhiên là không có sạt lở đất và lũ quét. Các chứng cứ khoa học cũng đã chứng minh nguyên nhân sạt lở đất không hoàn toàn là do phá rừng.

Tóm tắt báo cáo của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc có chỉ ra, trượt lở đất tạo ra phá hủy môi trường đối với rừng rậm và các tài nguyên nông nghiệp bằng cách làm mất lớp đất trên mặt, ngăn chặn các dòng sông và tăng bồi lắng hạ nguồn. Các nghiên cứu khoa học đã khẳng định vai trò quan trọng của cây cối và rừng rậm trong việc ngăn chặn trượt lở đất không chỉ bằng cách gia cố và làm khô đất mà còn bằng cách ngăn trở các vụ trượt lở đất nhỏ và đá lăn.

“Tuy nhiên, cây cối và rừng rậm dường như không có vai trò gì trong các sự kiện trượt lở đất sâu hoặc cực hạn”, báo cáo nêu.

sat-lo-mua-lu-1192024.jpg
Hiện trường một vụ sạt lở đất tại thôn Át, xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Ảnh: TTXVN phát

PGS.TS Vũ Thanh Ca phân tích, thậm chí khi có rừng, nước mưa rơi xuống đất sẽ được giữ lại do cây cỏ ngăn trở dòng chảy và do đó thấm quá nhiều vào đất, tạo áp suất thủy tĩnh và lực này cùng với tự trọng của khối đất có xu thế kéo khối đất ngậm nước trượt xuống sườn dốc. Đất thì lại ngấm nước nên liên kết yếu đi. Ngoài ra, nước thấm vào đất có thể tạo ra các dòng chảy ngầm, gây xói ngầm và sau một thời gian dài có thể cắt đứt các liên kết bên trong của các khối đất. Tất nhiên, nếu lực kéo của đất và áp suất thủy tĩnh nhỏ hơn lực liên kết và lực ma sát thì đất không sạt lở. Khi lực kéo lớn hơn, sạt lở sẽ xảy ra.

“Sạt lở đất có thể tạo ra các con đập tạm chặn dòng chảy, làm nước dâng lên cho tới khi đập vỡ sẽ tạo lũ quét và lũ ống, mang cả dòng nước chảy mạnh và đất đá, cây cối xuống hạ du. Dòng nước xiết cùng đất đá, cây cối sẽ gây thương vong rất lớn cho con người và tàn phá cơ sở hạ tầng”, ông Ca nói.

Giải pháp công trình chỉ giảm rủi ro, không thể ngăn hoàn toàn sạt lở

Theo PGS.TS Vũ Thanh Ca, các biện pháp công trình chống sạt lở hiện nay chủ yếu gồm khoan vào sườn núi để lắp đặt hệ thống ống thoát nước nhằm giảm áp suất thủy tĩnh trong đất và xây kè gia cố chân núi.

Đây là giải pháp đã được Nhật Bản áp dụng để bảo vệ các tuyến giao thông đi qua vùng đồi núi. Việt Nam cũng đã triển khai tại một số vị trí trên các tuyến đường. Tuy nhiên, các công trình này có chi phí rất lớn và vẫn không thể ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ sạt lở đất cũng như lũ quét.

sat-lo.jpg
Sáng 16/7, tại Km76+250 QL12, đoạn qua xã Lê Lợi, tỉnh Lai Châu đã xảy ra sự cố đứt nền đường - Ảnh: Cục ĐBVN.

Phải thấy rằng, Nhật Bản là quốc gia có hệ thống đê điều, công trình chống sạt lở và hạ tầng cứu hộ thuộc nhóm hiện đại nhất thế giới, nhưng hằng năm vẫn ghi nhận nhiều trường hợp thiệt mạng do vỡ đê, lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất.

Đơn cử, bão Hagibis tháng 10/2019 đã làm nhiều người thiệt mạng do lũ lụt và sạt lở đất. Đặc biệt, đợt mưa lớn tháng 7/2018 tại Nhật Bản khiến 225 người tử vong, 13 người mất tích do lũ lụt và sạt lở đất. Điều này cho thấy sức tàn phá rất lớn của các hiện tượng thiên tai cực đoan.

Cần lập bản đồ rủi ro, nâng cao cảnh báo và từng bước di dời dân

Theo PGS.TS Vũ Thanh Ca, một trong những nguyên nhân khiến thiệt hại ở Việt Nam còn lớn là do mật độ dân cư cao, nhiều khu dân cư và công trình được xây dựng trong hành lang thoát lũ hoặc tại các khu vực có nguy cơ sạt lở.

Trong điều kiện Việt Nam vẫn là quốc gia đang phát triển với thu nhập bình quân đầu người còn thấp, ông cho rằng giải pháp lâu dài và hiệu quả nhất là lập bản đồ rủi ro sạt lở đất, lũ quét, lũ ống để từng bước di dời người dân khỏi các khu vực có rủi ro cao.

ban-do-sat-lo.png
Hình ảnh về app Sạt lở Việt Nam, sản phẩm do nhóm nghiên cứu của GS.TS Đỗ Minh Đức, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) thực hiện giúp cảnh báo sớm, giảm rủi ro mùa bão lũ. Ảnh: GS Đỗ Minh Đức.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai mưa lớn, sạt lở đất và lũ quét, lũ ống; đầu tư nâng cấp nhà ở, đường giao thông và các công trình công cộng có thể sử dụng làm nơi sơ tán; tổ chức sơ tán người dân đến nơi an toàn khi nguy cơ thiên tai ở mức cao.

Việc di dời dân cư không hề đơn giản do quỹ đất hạn chế và khó tạo sinh kế bền vững tại nơi ở mới. Vì vậy, trước mắt, việc nâng cao chất lượng cảnh báo, cải thiện hạ tầng và tổ chức sơ tán vẫn là giải pháp khả thi hơn.

Tuy nhiên, PGS.TS Vũ Thanh Ca lưu ý, sạt lở đất và lũ quét là những hiện tượng có chu kỳ xuất hiện không thường xuyên, khiến nhiều cảnh báo không trùng với thời điểm thiên tai xảy ra, dễ dẫn đến tâm lý chủ quan và "nhờn cảnh báo".

“Do đó, trong tương lai cần áp dụng giải pháp căn cơ hơn là di dời dân khỏi các vùng có rủi ro cao về sạt lở đất, lũ quét, lũ ống và tạo sinh kế bền vững cho người dân tại khu vực sinh sống mới”, ông Ca nói.

[e-Magazine] Gỡ 'nút thắt' hạ tầng sạc – Mở đường cho chuyển dịch năng lượng [Kỳ 3]

[e-Magazine] Gỡ 'nút thắt' hạ tầng sạc – Mở đường cho chuyển dịch năng lượng [Kỳ 3]

Điện từng được tạo ra để thắp sáng, vận hành máy móc và phục vụ sinh hoạt. Nhưng trong kỷ nguyên chuyển dịch năng lượng, điện đang gánh thêm một sứ mệnh mới: trở thành "nhiên liệu" của giao thông, là mắt xích kết nối điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ năng lượng và hàng triệu phương tiện xanh.
back to top