Thời sự

Nghệ thuật xây dựng cơ sở quần chúng của Việt Minh trước Cách mạng Tháng Tám

Trước khi giành chính quyền năm 1945, Việt Minh đã dành nhiều năm xây dựng mạng lưới quần chúng, biến những làng quê thành nền móng cho cuộc tổng khởi nghĩa.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thường được nhìn từ những ngày tháng quyết định của tháng Tám, khi hàng triệu người xuống đường giành chính quyền tại các thành phố và tỉnh lỵ. Nhưng đằng sau những cuộc mít tinh và những đoàn người mang cờ đỏ sao vàng ấy là một quá trình chuẩn bị kéo dài nhiều năm. Một trong những thành công quan trọng nhất của Việt Minh trước năm 1945 chính là xây dựng được cơ sở quần chúng từ những địa bàn nhỏ bé, bí mật, rồi từng bước mở rộng thành mạng lưới chính trị rộng lớn.

Đây không đơn thuần là việc tuyển mộ người tham gia một tổ chức. Đó là cả một nghệ thuật vận động xã hội trong điều kiện hoạt động bí mật, bị chính quyền thuộc địa và quân đội Nhật kiểm soát, trong khi phần lớn dân chúng vẫn sống trong các cộng đồng nông thôn phân tán.

Tiếp cận con người thông qua những mối quan tâm gần gũi với đời sống

Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 1941. Ngày 28/1, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Việt Nam và chọn Pác Bó, Cao Bằng làm nơi trực tiếp hoạt động. Tại đây, Người cùng Trung ương Đảng chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ tám, diễn ra từ ngày 10 đến 19/5/1941. Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.

Điểm đáng chú ý là Việt Minh không tổ chức quần chúng theo cách yêu cầu tất cả mọi người phải ngay lập tức trở thành thành viên của một tổ chức chính trị thống nhất. Thay vào đó, mặt trận được cấu tạo bởi nhiều hội cứu quốc dành cho những nhóm xã hội khác nhau như công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, thiếu nhi, phụ lão... Cách tổ chức này cho phép phong trào tiếp cận con người thông qua những mối quan tâm gần gũi với đời sống của họ.

Đó là một phương pháp có tính thực tiễn cao. Một người nông dân có thể được vận động trước hết từ câu chuyện về ruộng đất, thuế khóa, đói nghèo và quyền lợi của làng xã; một thanh niên có thể được thu hút thông qua hoạt động cứu quốc, tự vệ và tuyên truyền; phụ nữ có thể tham gia thông qua các tổ chức phụ nữ cứu quốc. Từ những lợi ích và mối quan hệ xã hội cụ thể, tổ chức chính trị dần được hình thành.

Mít tinh tổng khởi nghĩa tại Quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội. Ảnh tư liệu

Cơ sở quần chúng vì thế không bắt đầu bằng một đám đông, mà bắt đầu từ những nhóm nhỏ.

Cao Bằng là ví dụ tiêu biểu. Sau khi trở về Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chú trọng xây dựng cơ sở cách mạng và tổ chức quần chúng. Địa bàn này có địa hình hiểm trở, nằm sát biên giới và có những cộng đồng dân tộc thiểu số với quan hệ làng bản bền chặt. Những điều kiện ấy vừa tạo khó khăn, vừa đem lại lợi thế cho việc xây dựng căn cứ.

Tại đây, cán bộ cách mạng không chỉ tuyên truyền bằng những văn kiện chính trị. Công tác vận động phải gắn với đời sống thực tế và sử dụng những phương thức truyền đạt phù hợp với trình độ, ngôn ngữ và sinh hoạt của người dân địa phương. Cán bộ phải đi vào làng bản, gặp gỡ từng gia đình, xây dựng lòng tin và thông qua những người có uy tín để mở rộng ảnh hưởng.

Báo Việt Nam Độc lập ra số đầu tiên

Một công cụ quan trọng của quá trình ấy là báo chí cách mạng. Ngày 1/8/1941, báo Việt Nam Độc lập ra số đầu tiên tại Cao Bằng, trở thành cơ quan tuyên truyền của Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Báo được in bằng kỹ thuật thạch bản trên giấy học sinh, mỗi tháng ba kỳ, mỗi kỳ khoảng 400 bản. Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tham gia sáng lập, biên tập, viết bài và vẽ tranh minh họa.

Nhưng một tờ báo chỉ có giá trị khi nó đến được với người dân. Vì vậy, phía sau hoạt động xuất bản là cả một mạng lưới phát hành bí mật. Báo, truyền đơn, tài liệu tuyên truyền được đưa từ trung tâm xuống các cơ sở, rồi từ cơ sở này sang cơ sở khác. Thông tin được truyền đi không chỉ bằng giấy mà còn bằng truyền miệng, một phương thức đặc biệt quan trọng trong xã hội nông thôn lúc bấy giờ.

Đây chính là một trong những đặc điểm đáng chú ý của nghệ thuật xây dựng cơ sở quần chúng: kết hợp tổ chức với truyền thông, kết hợp người với người và kết hợp những trung tâm cách mạng với mạng lưới cơ sở địa phương.

Cuối năm 1942, tại Cao Bằng, hệ thống Việt Minh đã phát triển đến cả chín châu; nhiều nơi hình thành các hội cứu quốc và ủy ban Việt Minh ở cấp xã. Điều đó cho thấy phong trào không còn chỉ tồn tại ở một vài nhóm cán bộ bí mật mà đã hình thành một mạng lưới xã hội có chiều sâu.

Xây dựng cơ sở quần chúng gắn với xây dựng lực lượng tự vệ

Một đặc điểm khác là Việt Minh không tách rời xây dựng cơ sở quần chúng với xây dựng lực lượng tự vệ và căn cứ địa. Khi cơ sở chính trị phát triển, các đội tự vệ được tổ chức; khi lực lượng tự vệ phát triển, khả năng bảo vệ cán bộ và bảo vệ cơ sở được nâng lên. Từ phong trào quần chúng lại xuất hiện những người có khả năng trở thành cán bộ hoặc chỉ huy lực lượng vũ trang.

Cao Bằng trở thành một trường hợp điển hình. Theo các tư liệu lịch sử, đến đầu năm 1943, các xã, tổng thuộc Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình đều đã có đội tự vệ. Các cán bộ địa phương cũng được huấn luyện để tiếp tục phát triển phong trào sang những địa bàn khác.

Bia lưu niệm ở Quảng trường Cách mạng Tháng tám, Hà Nội. Ảnh: Quốc Lê.

Bia lưu niệm ở Quảng trường Cách mạng Tháng tám, Hà Nội. Ảnh: Quốc Lê.

Mô hình ấy sau đó được mở rộng ra Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và các khu vực khác. Căn cứ địa không chỉ là nơi trú ẩn của cán bộ hay lực lượng vũ trang, mà trở thành một không gian chính trị – xã hội, trong đó tuyên truyền, tổ chức quần chúng, đào tạo cán bộ, xây dựng tự vệ và chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra đồng thời.

Đặc biệt, Việt Minh còn phải đối mặt với một bài toán khó: làm thế nào biến một phong trào ban đầu còn tương đối hạn chế thành lực lượng có khả năng huy động đông đảo nhân dân khi thời cơ xuất hiện?

Câu trả lời nằm ở việc xây dựng tổ chức từ trước. Một cuộc tổng khởi nghĩa không thể bắt đầu bằng việc đến ngày khởi nghĩa mới đi tìm người tham gia. Người tham gia phải được chuẩn bị về nhận thức, được kết nối thông qua tổ chức và biết phải làm gì khi thời cơ đến.

Đến năm 1945, khi tình hình quốc tế thay đổi nhanh chóng, Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3 rồi tiến tới thất bại và đầu hàng Đồng minh, những mạng lưới đã được xây dựng từ trước trở thành một lợi thế đặc biệt. Từ các căn cứ và cơ sở, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang có thể nhanh chóng phối hợp, mở rộng ảnh hưởng và tổ chức quần chúng.

Nhìn từ góc độ lịch sử tổ chức, có thể nói thành công của Việt Minh trước Cách mạng Tháng Tám không chỉ nằm ở khả năng tuyên truyền, mà còn nằm ở nghệ thuật biến tuyên truyền thành tổ chức và biến tổ chức thành hành động tập thể.

Đó là một quá trình đi từ một người đến vài người, từ vài người đến một nhóm, từ nhóm đến một làng, từ làng đến một vùng và cuối cùng nối các vùng thành một mạng lưới rộng lớn. Khi thời cơ chính trị xuất hiện vào tháng Tám năm 1945, cái được huy động không phải là một đám đông hoàn toàn tự phát, mà là một xã hội đã trải qua nhiều năm được vận động, tổ chức và chuẩn bị.

Bởi vậy, nếu những ngày tháng Tám là khoảnh khắc quyết định của cuộc cách mạng, thì những năm 1941–1945 chính là giai đoạn âm thầm tạo nên “hạ tầng xã hội” cho khoảnh khắc ấy. Và trong lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, nghệ thuật xây dựng cơ sở quần chúng có lẽ là một trong những yếu tố ít gây chú ý nhất nhưng có sức giải thích lớn nhất đối với khả năng huy động lực lượng trên quy mô rộng lớn.

back to top