Khám phá - Thể thao

Loài mèo hoang mới được xác định sau hơn 100 năm tại Bolivia

Nhỏ hơn cả mèo nhà, một con mèo sống tại khu bảo tồn ở Bolivia suốt nhiều năm hóa ra thuộc về loài mèo hoang chưa từng được khoa học mô tả.

Một nhóm nghiên cứu quốc tế vừa xác định Tigrino thuộc loài Leopardus tilcayo, thành viên mới của nhóm mèo đốm nhỏ thường được gọi là “tiger cat” ở châu Mỹ. Theo nhóm nghiên cứu, đây là loài mèo hoang còn tồn tại đầu tiên được mô tả mới sau hơn một thế kỷ.

Suốt gần một thập kỷ, Tigrino sống tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Senda Verde ở Bolivia. Con vật chỉ dài khoảng 46 cm tính từ đầu đến gốc đuôi và nặng 1,4 kg, nhỏ hơn nhiều con mèo nhà.

Không ai ngờ cá thể nhỏ bé này lại đại diện cho một loài hoàn toàn mới đối với khoa học.

ap26263781120267-2560x1440-1-1536x864jpg.jpg
Tigrino thuộc loài Leopardus tilcayo vừa được khoa học xác định. Ảnh: Juan Karita/AP.

Tigrino thực ra đã xuất hiện từ lâu. Trước khi đến khu bảo tồn vào năm 2017, nó từng được một gia đình địa phương nuôi với ý định biến thành thú cưng. Tuy nhiên, một động vật hoang dã không dễ thích nghi với cuộc sống của mèo nhà và cuối cùng Tigrino được chuyển tới Senda Verde, khu bảo tồn nằm tại vùng Yungas của Bolivia.

Việc nhận ra Tigrino khác biệt không chỉ dựa vào ngoại hình. Các nhà khoa học đã phân tích toàn bộ bộ gene của 38 cá thể thuộc chi Leopardus. Trong số này có 30 cá thể hiện đại và 8 mẫu vật được lưu giữ trong bảo tàng. Họ cũng sử dụng dữ liệu từ mèo rừng và báo sư tử để đối chiếu.

Kết quả cho thấy những con mèo nhỏ từng được xếp chung vào một nhóm trên thực tế có lịch sử tiến hóa phức tạp hơn nhiều. Nhóm “tiger cat”, trước đây từng được coi là một loài phân bố rộng, nay được xác định gồm 5 loài riêng biệt, thích nghi với những môi trường khác nhau.

untitled-design-70-1jpg.jpg
Leopardus tilcayo có kích thước nhỏ, bộ lông đốm và chiếc đuôi rậm. Ảnh: Paola Nogales Ascarrunz/Wikimedia Commons.

Các phân tích di truyền cho thấy, những nhánh đầu tiên của nhóm mèo này bắt đầu tách khỏi nhau hơn 2,3 triệu năm trước. Thời điểm đó diễn ra sau khi eo đất Panama hình thành, nối Bắc Mỹ với Nam Mỹ và tạo điều kiện cho nhiều loài động vật di chuyển giữa hai lục địa.

Nhóm nghiên cứu còn xác định một phân loài mới tại Peru mang tên Leopardus tigrinus antisuyo. So với L. tilcayo, chúng có bộ lông ngắn hơn, đuôi ít rậm hơn và hoa văn trên cơ thể cũng khác biệt.

Việc xác định L. tilcayo là một loài riêng biệt cũng đặt ra câu hỏi về tình trạng của chúng trong tự nhiên.

Paola Nogales-Ascarrunz, đồng tác giả nghiên cứu và là một trong những người tham gia xác định Tigrino tại khu bảo tồn cho biết số lượng thực tế của loài vẫn chưa được xác định.

Dữ liệu di truyền cũng cho thấy các nhóm mèo “tiger cat” đã trải qua xu hướng suy giảm quần thể kéo dài, có nơi lên tới 80% trong lịch sử tiến hóa. Dù vậy, những mẫu được nghiên cứu hiện chưa cho thấy mức độ giao phối cận huyết cao như từng ghi nhận ở một số quần thể mèo bị cô lập khác.

Science Alert
back to top