Khoa học & Công nghệ

GS Vũ Đình Cự: Đưa tri thức khoa học vào thực tiễn đất nước

Từ công trình phá bom từ trường thời chiến đến xây dựng các viện nghiên cứu và hoạch định chính sách, GS Vũ Đình Cự dành trọn đời cống hiến cho đất nước.

GS Vũ Đình Cự (1936–2011) là nhà vật lý có nhiều đóng góp cho khoa học và công nghệ Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông cùng các đồng nghiệp ở tổ đặc nhiệm GK1 nghiên cứu bom từ trường DST, chế tạo thiết bị phá bom, thủy lôi tự động, góp phần bảo đảm giao thông miền Bắc. Sau chiến tranh, ông tiếp tục xây dựng các cơ sở nghiên cứu, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và tham gia hoạch định chính sách khoa học, công nghệ của đất nước.

Giải mã bom “Kẻ hủy diệt” giữa chiến tranh

Giữa năm 1972, khi Mỹ sử dụng bom từ trường và thủy lôi từ tính để phong tỏa các cảng biển, tuyến giao thông miền Bắc, việc tìm ra phương án đối phó trở thành nhiệm vụ cấp bách. Những loại vũ khí này có cơ chế kích nổ phức tạp, gây nguy hiểm cho lực lượng rà phá và đe dọa hoạt động vận tải chiến lược.

Tháng 8/1972, GS Vũ Đình Cự, khi ấy đang giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, được Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu giao nhiệm vụ biệt phái sang Bộ Giao thông Vận tải, tham gia Tiểu ban rà phá bom mìn, thủy lôi. Tại đây, ông cùng các đồng nghiệp thành lập tổ đặc nhiệm GK1, phối hợp giữa ngành giao thông vận tải và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tập trung nghiên cứu giải pháp kỹ thuật đối phó với bom từ trường, thủy lôi từ tính của Mỹ.

ong-phong.jpg
Từ phải qua: GS Nguyễn Nguyên Phong, thầy GS Vũ Đình Cự và PGS Nguyễn Xuân Chánh trong nhóm GK1. Ảnh trưng bày tại HUST.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tổ là nghiên cứu bom DST, loại bom từ trường được biết đến với biệt danh “Kẻ hủy diệt”. Để tìm ra cách vô hiệu hóa loại vũ khí này, các nhà khoa học phải tìm hiểu cấu tạo, xác định nguyên lý hoạt động và cơ chế kích nổ của bom.

Trong điều kiện chiến tranh thiếu thốn trang thiết bị, tổ GK1 nhận được sự hỗ trợ của Trung tâm máy tính điện tử thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cùng các thiết bị nghiên cứu do Liên Xô viện trợ. Bằng kiến thức vật lý, phương pháp thực nghiệm và sự phối hợp giữa các đơn vị, nhóm từng bước giải quyết bài toán kỹ thuật đặt ra.

Việc “mổ phanh” quả bom không đơn thuần là tìm hiểu cấu tạo bên trong. Điều quan trọng là phải nhận diện được nguyên lý khiến bom phát nổ, từ đó xây dựng phương án tác động vào cơ cấu kích nổ mà không buộc người làm nhiệm vụ phải trực tiếp tiếp cận vị trí nguy hiểm.

Từ kết quả nghiên cứu, tổ GK1 chế tạo thành công thiết bị phá bom, thủy lôi từ trường tự động. Thiết bị hoạt động theo nguyên lý đánh lừa cơ cấu kích nổ, tạo điều kiện khiến bom, thủy lôi phát nổ mà không cần con người trực tiếp tiếp cận chúng.

Các thiết bị nhanh chóng được đưa vào thực tế, phục vụ rà phá bom từ trường, thủy lôi tại cảng Hải Phòng và những địa điểm trọng yếu. Trong giai đoạn 1972–1973, công trình góp phần bảo đảm giao thông, hỗ trợ khai thông các tuyến vận tải và đối phó với hoạt động phong tỏa miền Bắc bằng bom, thủy lôi của Mỹ.

Ý nghĩa của công trình nằm ở khả năng giải quyết một nhiệm vụ kỹ thuật đặc biệt cấp bách trong chiến tranh. Kiến thức vật lý được vận dụng trực tiếp vào việc nghiên cứu vũ khí, chế tạo thiết bị và giảm nguy hiểm cho lực lượng làm nhiệm vụ. Đây cũng là kết quả của sự phối hợp giữa các nhà khoa học, ngành giao thông vận tải và những đơn vị trực tiếp triển khai rà phá.

Với những đóng góp trong công trình phá thủy lôi từ tính và bom từ trường, GS Vũ Đình Cự cùng các thành viên tổ GK1 được tặng Huân chương Chiến công. Năm 1996, công trình “Phá thủy lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ” được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về khoa học và công nghệ.

Vị Tiến sĩ khoa học đầu tiên, một đời đưa tri thức vào thực tiễn đất nước

GS Vũ Đình Cự sinh ngày 15/2/1936, quê xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau hòa bình lập lại năm 1954, ông theo học khóa đầu tiên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp năm 1956, ông về công tác tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tham gia giảng dạy và xây dựng nền móng đào tạo, nghiên cứu vật lý tại trường.

Năm 1961, ông được cử đi làm nghiên cứu sinh ngành Vật lý chất rắn tại Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp thuộc Liên Xô cũ. Năm 1965, ông đã bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ. Hội đồng khoa học của Trường đề nghị Việt Nam cho phép ông tiếp tục ở lại Liên Xô để phát triển công trình thành luận án tiến sĩ khoa học.

vu-dinh-cu.jpg
Để ghi nhớ những công lao, đóng góp của GS,TSKH Vũ Đình Cự, Ủy ban KH,CN&MT của Quốc hội phối hợp với Viện Ứng dụng Công nghệ (Bộ KH&CN) cùng một số bạn bè, học trò thân thiết của ông và gia đình đã biên soạn cuốn sách: "GS,TSKH Vũ Đình Cự - Cả đời cống hiến" (NXB Giáo dục tháng 1 năm 2018).

Tháng 3/1967, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Toán-Lý (nay gọi là tiến sĩ khoa học), chuyên ngành Vật lý chất rắn với đề tài về màng mỏng từ tính, trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công tại Trường Đại học Tổng hợp Lô-mô-nô-xốp.

Vị đại diện Trường phát biểu tại buổi bảo vệ của ông: “Với niềm tự hào, chúng ta tặng học vị tiến sĩ khoa học Toán-Lý cho người Việt Nam đầu tiên. Như vậy, chúng ta đã thực hiện lời hứa với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam khi các đồng chí ấy thăm Trường, là đào tạo cho Việt Nam những nhà khoa học có trình độ cao”.

Các nghiên cứu của ông được trích dẫn nhiều ở Nga, Mỹ, Anh, Pháp, Đức… Năm 1970, tại hội nghị quốc tế về màng mỏng năm ở Tiệp Khắc, đoàn đại biểu Mỹ giới thiệu một cuốn sách có viết về kết quả ứng dụng “lý thuyết Vũ Đình Cự” để sáng chế linh kiện máy tính. Các nhà khoa học Pháp cũng thông báo về kết quả ứng dụng “lý thuyết Vũ Đình Cự” để làm bộ nhớ máy tính…

Trở về nước, GS Vũ Đình Cự tiếp tục giảng dạy, xây dựng và phát triển bộ môn Vật lý chất rắn. Ông cũng là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng Phòng thí nghiệm vi điện tử ở nhà C9.

Với kiến thức chuyên sâu về vật lý cùng kinh nghiệm nghiên cứu thực nghiệm là nền tảng để ông tham gia giải quyết những vấn đề kỹ thuật phục vụ chiến trường, trong đó có nhiệm vụ nghiên cứu bom từ trường, thủy lôi từ tính năm 1972.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục đảm nhiệm những trọng trách trong lĩnh vực khoa học. Năm 1977, ông làm Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam. Năm 1980, ông thành lập và trực tiếp lãnh đạo Viện Kỹ thuật nhiệt đới. Năm 1984, ông được giao thành lập Viện Công nghệ quốc gia, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn.

Trong giai đoạn này, việc xây dựng các tổ chức nghiên cứu và tạo môi trường kết nối giữa khoa học với sản xuất trở thành một yêu cầu quan trọng. Viện Công nghệ quốc gia là một trong những cơ sở góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ; FPT ra đời năm 1988 trong bối cảnh hoạt động công nghệ thông tin ở Việt Nam bắt đầu hình thành những hướng phát triển mới.

Cùng với sự nghiệp khoa học, GS Vũ Đình Cự tham gia Quốc hội từ năm 1982. Ông từng giữ chức Phó Chủ nhiệm, sau đó là Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Năm 1991, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1997, ông trở thành Phó Chủ tịch Quốc hội khóa X, đồng thời giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam.

Trên cương vị hoạch định chính sách, ông dành nhiều tâm huyết cho các lĩnh vực điện tử, tin học và viễn thông. Với vai trò chủ nhiệm Chương trình khoa học – công nghệ cấp nhà nước về điện tử, tin học và viễn thông (KHCN-01), ông góp phần kết nối các nhà khoa học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ.

Những nhiệm vụ ông đảm nhận cho thấy phạm vi hoạt động rộng, từ nghiên cứu chuyên ngành, xây dựng tổ chức khoa học đến tham gia hoạch định chính sách. Trong các lĩnh vực khác nhau, mối quan tâm xuyên suốt của ông là phát huy năng lực nghiên cứu, đưa tri thức khoa học vào thực tiễn và tạo điều kiện cho công nghệ phát triển.

Ngoài vật lý, GS Vũ Đình Cự còn quan tâm đến triết học, kinh tế chính trị và các vấn đề phát triển xã hội. Sự am hiểu nhiều lĩnh vực khiến ông được đồng nghiệp gọi là “nhà thông thái”. Với những đóng góp cho đất nước, ông được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

GS Vũ Đình Cự qua đời ngày 7/9/2011. Cuộc đời ông tiêu biểu cho lớp trí thức Việt Nam trưởng thành trong những năm đầu xây dựng đất nước, mang khát vọng chinh phục tri thức, bản lĩnh sáng tạo và tinh thần phụng sự dân tộc.

Bài viết nằm trong tuyến bài “Những nhà khoa học, những người thầy” nhằm tôn vinh những tên tuổi đã góp phần làm nên diện mạo, vị thế của nền khoa học, giáo dục Việt Nam, đồng thời lan tỏa những giá trị mà họ để lại cho các thế hệ hôm nay.

back to top