Trẻ con tạng can bị nhiệt, bệnh can cam đi cầu thất thường, phân như nước gạo, mặt mũi và móng tay trẻ đều xanh, bụng đầy căng, nổi gân xanh, thân thể gầy còm, đi ngoài phân xanh.
Theo y học hiện đại, suy chức năng gan thường biểu hiện chính như rối loạn tiêu hoá: Chán ăn, sợ mỡ, táo lỏng thất thường, đầy bụng, trướng hơi, phù nề lúc đầu kín đáo ở 2 chi dưới, sau nặng dần, phù toàn thân. Sau đây là một số bài thuốc cổ phương, thường dùng chữa trẻ em can cam.
Nếu người nóng, hay cáu gắt tiểu vàng, cầu khó. Phép trị nên thanh can huyết, giải uất, dùng các vị : Sài hồ 4g, chi tử 4g, liên kiều 4g, sinh địa 4g, hoàng liên 4g, xích thược 4g, long đởm 4g, thanh bì 4g, cam thảo 4g, đăng tâm 4g, trúc diêp 4g. Sắc nước uống. Tác dụng thanh can giải tà, phù chính khử tà, trị kinh can phong nhiệt, mụn nhọt sinh đau.
Trong bài thuốc, sài hồ, long đởm thanh can; Chi tử, hoàng liên thanh giải khí nhiệt; Sinh địa, xích thược thanh huyết; Liên kiều thanh giải doanh nhiệt; Thanh bì thư can lợi khí; Sinh cam thảo hòa dược giải độc.
Nếu ăn kém, người gầy nóng trong. Phép trị, thanh can, kiện tỳ nên dùng các vị thuốc: Ngũ cốc trùng 4g, sinh lô hội 4g, hồ hoàng liên 4g, sài hồ 4g, biển đậu 4g, sơn dược 4g, sơn tra 4g, nhục đậu khấu 4g, binh lang 4g, sử quân tử 4g, thần khúc 4g, mạch nha 4g, hạc sắc 4g, vu di 4g, chu sa 1g, xạ hương 2g. Cách dùng: Tán nhỏ tẩm giấm thanh làm hoàn, tác dụng kiện tỳ, tiêu cam, tiêu thực tiết nhiêt. Sinh lô hội, vu di, hạc sắc, sử quân tử sát trùng tiêu cam. Ngũ cốc trùng, sơn tra, binh lang, thần khúc, mạch nha tiêu thực hoá cam. Nhị liên thanh nhiệt. Sài hồ tiết nhiệt. Nhục khấu ôn trung. Sạ hương hành trệ. Chu sa giải độc. Trong bài này, nếu không có những vị thuốc thanh hỏa giúp sức thì trung khí tổn thương, sinh ra các biến chứng cho nên dùng thêm hai vị biển đậu, sơn dược. Bệnh can cam nếu chỉ dùng bài trên không dùng bài này thì can nhiệt tuy thanh nhưng bệnh cam vẫn không khỏi. Nếu chỉ dùng thuốc hoàn này không dùng bài trên thì cam tuy khỏi nhưng cam chưa thanh, bệnh tất trở lại. Phải vừa dùng thuốc chén vừa dùng thuốc hoàn thì bệnh khỏi dứt được.
Khi đã thanh giải can nhiệt nên bổ tỳ bình can, dùng bài thuốc sau: Đương quy 4g, bạch thược 4g, bạch truật 4g, phục linh 4g, bạc hà 2g, cam thảo 4g, đơn bì 4g, chi tử 4g, sinh khương 3 lát, đại táo 3 qủa sắc uống. Tác dụng trị can uất, huyết nhiệt ngũ tâm phiền nhiệt, đầu váng mắt hoa, đau tức liên sườn, tỳ vị kinh nguyêt không đều. Dẫn giải: Đương quy, bạch thược bổ huyết; Sài hồ, bạc hà tiết nhiệt; Cam thảo, bạch truật bổ khí kiện tỳ; Đơn bì, chi tử thanh nhiệt. Bệnh can cam dùng hai bài trên đã bớt, nên cho dùng bài này để điều dưỡng.
Bài thuốc dùng khi bệnh lui gồm: Nhân sâm 4g, bạch truật 4g, phục linh 5 phiến, sài hồ 5 phiến, hoàng liên 4g, thanh bì 4g, trần bì 4g, bạch giới tử 4g, long đởm 4g, sơn tra 4g, thần khúc 4g, cam thảo 2g, sinh khương 3 lát, hồng táo 3 quả. Sắc uống. Tác dụng thanh can, bổ tỳ vị, tiêu trệ. Sài hồ, long đởm thanh can; Sâm, truật, linh thảo phù tỳ; Sơn tra, thần khúc tiêu thực; Thanh bì, trần bì lợi khí hành trệ; Hoàng liên thanh nhiệt; Bạch giới tử tiêu đàm. Bệnh đã lui nên cho dùng tiếp bài này để phù tỳ và trị bệnh thì bệnh hết mà chính khí không tổn thương, rất công hiệu.
Lương y Nguyễn Văn Sáu (TT Y tế Bà Rịa)