Bà Nguyễn Thị Minh Khai là một trong những nữ chiến sĩ cộng sản tiêu biểu của cách mạng Việt Nam thời kỳ đầu. Từ cô nữ sinh ở Vinh sớm tham gia phong trào yêu nước, bà trở thành cán bộ cách mạng hoạt động ở nước ngoài, tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và đảm nhiệm cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Bị thực dân Pháp bắt, tra tấn và kết án tử hình, bà vẫn giữ vững khí tiết, để lại bức thư gửi cha mẹ thể hiện niềm tin vào sự trong sạch của người chiến sĩ cách mạng. Ngày 28/8/1941, trước khi ngã xuống tại trường bắn, người nữ đảng viên ấy vẫn cất cao tiếng hô cách mạng.
Bản lĩnh người nữ cán bộ trên diễn đàn Quốc tế Cộng sản
Bà Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 30/9/1910 tại Vinh, Nghệ An, trong một gia đình công chức nhỏ. Từ năm lên 9 tuổi, bà theo học chữ Quốc ngữ tại trường nữ sinh thành phố Vinh, sau đó chuyển sang Trường Tiểu học Cao Xuân Dục.
Những năm tháng tuổi trẻ của Nguyễn Thị Minh Khai diễn ra trong bối cảnh phong trào yêu nước lan rộng ở Nghệ Tĩnh. Khi còn là nữ sinh, bà đã tích cực tham gia các hoạt động do thầy giáo hướng dẫn, vận động bạn học góp tiền mua hoa, mua vải may băng tang dự lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh, ký tên vào bản yêu sách đòi thực dân Pháp thả nhà cách mạng Phan Bội Châu.
Tốt nghiệp tiểu học, bà ở nhà giúp mẹ bán hàng, ghi chép sổ sách, chăm lo công việc gia đình nhưng vẫn tham gia các hoạt động yêu nước. Mùa hè năm 1927, Nguyễn Thị Minh Khai trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Vinh - Bến Thủy được kết nạp vào Hội Hưng Nam, sau đổi tên thành Tân Việt Cách mạng đảng. Bà được bầu vào Ban Chấp hành đại tổ, phụ trách công tác vận động phụ nữ.
Năm 1929, bà thoát ly gia đình, bước vào hoạt động cách mạng bí mật. Từ tổ chức Tân Việt, bà tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương, đảm nhiệm công tác tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy và các làng lân cận. Bà trực tiếp hòa mình vào phong trào công nhân, xây dựng cơ sở đảng, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh ở địa phương.
Mùa hè năm 1930, Nguyễn Thị Minh Khai được cử ra Hải Phòng rồi sang Hương Cảng, làm việc tại Văn phòng Phương Nam thuộc Bộ Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Tại đây, bà được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp huấn luyện về lý luận cách mạng, đồng thời đảm nhiệm việc liên lạc giữa Thị ủy Hương Cảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc với các tổ chức cách mạng Việt Nam.
Hoạt động trong mạng lưới mật thám dày đặc của thực dân Anh, bà sử dụng nhiều bí danh như Cô Duy, Trần Thái Lan, Lý Huệ Phương. Năm 1931, bà bị bắt giam, tra tấn và đánh đập nhưng không khuất phục. Đến năm 1933, nhờ sự can thiệp của Quốc tế Đỏ, bà được trả tự do. Sau đó, bà đổi tên thành Thị Vai, tìm đến Thượng Hải bắt liên lạc với Lê Hồng Phong và tiếp tục hoạt động trong ban lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài.
Năm 1935, Nguyễn Thị Minh Khai cùng Lê Hồng Phong được cử dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva. Tại đại hội, dưới tên Phan Lan, bà trình bày tham luận lên án chính sách xâm lược, tội ác của thực dân Pháp, đồng thời nêu cao tinh thần đấu tranh của phụ nữ Đông Dương và phụ nữ Việt Nam. Sau đại hội, bà ở lại học tại Trường Đại học Phương Đông, tiếp tục trau dồi lý luận và kinh nghiệm hoạt động.
Đầu năm 1937, Nguyễn Thị Minh Khai trở về Sài Gòn, được Trung ương Đảng phân công công tác tại Xứ ủy Nam Kỳ. Bà viết nhiều bài đăng trên báo Dân chúng, kêu gọi phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống áp bức, bóc lột.
Khí tiết kiên trung của Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Tổ chức đảng phải chuyển vào hoạt động bí mật, tập trung lực lượng đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Thị Minh Khai được Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.
Trên cương vị này, bà thường xuyên bám sát cơ sở, trực tiếp nắm tình hình và chỉ đạo phong trào đấu tranh của công nhân, phụ nữ. Bà bí mật vào xưởng đóng tàu Ba Son, Công ty hỏa xa Sài Gòn, đến Hóc Môn, Gia Định để kiểm tra tình hình, củng cố cơ sở và tổ chức hoạt động. Công việc đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải đối mặt với sự truy lùng của mật thám, trong khi mạng lưới cách mạng đứng trước nhiều nguy cơ bị phá vỡ.
Cuộc sống riêng của Nguyễn Thị Minh Khai cũng gắn chặt với những năm tháng hoạt động đầy hiểm nguy. Chồng bà, Lê Hồng Phong, trở về Sài Gòn hoạt động và bị thực dân Pháp bắt ngày 29/9/1939. Mùa xuân năm 1940, chỉ vài ngày sau khi sinh người con đầu lòng và duy nhất, bà đã phải xa con để tiếp tục công tác cách mạng.
Thời điểm ấy, tình hình Đông Dương biến động nhanh chóng. Nhật tiến vào Đông Dương, phong trào đấu tranh ở Sài Gòn - Gia Định và các vùng nông thôn Nam Bộ dâng cao. Xứ ủy Nam Kỳ họp bàn chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền. Sau hội nghị, một cơ sở đảng tại khu vực Ngã Sáu Bình Đông bị lộ.
Ngày 30/7/1940, bà Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp bắt, đưa về giam tại bót Catinat. Nhà cầm quyền đưa Lê Hồng Phong đến nhận mặt bà, nhằm tìm chứng cứ buộc tội hai người liên quan đến cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ. Cả hai không khai nhận, kể cả quan hệ vợ chồng. Sau đó, bà bị đưa vào Khám Lớn Sài Gòn.
Sau nhiều tháng giam cầm, tra tấn và dụ dỗ, ngày 21/1/1941, bà bị kết án 5 năm tù khổ sai, 20 năm biệt xứ. Đến ngày 11/3/1941, Tòa án Thượng thẩm Sài Gòn tiếp tục tuyên các hình phạt trên, đồng thời tước quyền công dân trong 20 năm và phạt tiền. Tuy nhiên, các phiên tòa quân sự sau đó đã kết án tử hình bà cùng những người bị bắt trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.
Trong bức thư gửi cha mẹ ngày 29/5/1941, Nguyễn Thị Minh Khai viết những lời thể hiện rõ phẩm giá và niềm tin của mình: “Con đầy một tấm lòng nhân ái, minh chính”. Bà mong cha mẹ không đau khổ, tủi nhục vì bản án mà thực dân Pháp áp đặt, khẳng định mình không phạm những tội ác như kẻ thù cáo buộc.
Bức thư không chỉ là lời gửi gắm của người con trước giờ phút sinh tử, mà còn cho thấy sự bình tĩnh của một người chiến sĩ hiểu rõ con đường mình đã chọn. Đối diện với bản án tử hình, bà vẫn giữ niềm tin vào sự trong sạch của bản thân và lý tưởng cách mạng.
Trước giờ hy sinh, vẫn tố cáo tội ác của kẻ thù
Sáng 28/8/1941, biết thực dân Pháp sẽ đưa mình cùng một số đồng chí đi xử bắn, Nguyễn Thị Minh Khai lớn tiếng tố cáo tội ác của kẻ thù, kêu gọi bạn tù đứng lên đấu tranh. Quân địch dùng lưỡi lê đâm vào ngực bà. Trước sự phản kháng của những người tù cách mạng, chúng vội đưa bà cùng các đồng chí ra trường bắn.
Trước họng súng thực dân, những người chiến sĩ giật tung dải bịt mắt, ngẩng cao đầu hô vang: “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!”.
Bà Nguyễn Thị Minh Khai hy sinh ở tuổi 30. Cuộc đời bà dừng lại giữa lúc phong trào cách mạng đang trải qua những năm tháng khốc liệt, nhưng những hoạt động từ Nghệ An, Hương Cảng, Thượng Hải đến Sài Gòn - Chợ Lớn đã ghi dấu một nữ cán bộ sớm trưởng thành, đảm nhiệm nhiều trọng trách và giữ vững khí tiết trước sự đàn áp của kẻ thù.
Trong những ngày bị giam tại bót Catinat, bà còn khắc lên tường bài thơ thể hiện ý chí của người chiến sĩ:
“Vững chí bền gan ai hỡi ai
Kiên tâm giữ dạ mới anh tài
Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ
Con đường cách mạng lắm chông gai”.
Nhắc đến Nguyễn Thị Minh Khai, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nhận xét: “Tôi đã gặp và làm việc với nhiều cán bộ nữ, nhưng chưa thấy ai có ý thức vươn lên gánh vác vai trò lãnh đạo cách mạng như đồng chí Minh Khai”.
Tên bà Nguyễn Thị Minh Khai được đặt cho nhiều tuyến phố trên cả nước. Ở TP HCM, con đường mang tên bà nằm tại khu vực trung tâm thành phố; ngôi trường Nguyễn Thị Minh Khai cũng là địa chỉ giáo dục giàu truyền thống. Mỗi tên đường, tên trường nhắc nhớ về một nữ chiến sĩ đã dành tuổi trẻ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để lại tấm gương về bản lĩnh, lòng kiên trung và khí phách trước kẻ thù.
Bài viết nằm trong tuyến bài “Những danh nhân trên biển tên đường phố”, tôn vinh những trí thức lớn và các nhân vật tiêu biểu làm rạng danh đất nước, giúp thế hệ hôm nay hiểu thêm về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của các danh nhân được đặt tên cho những con phố quen thuộc mỗi ngày.