--Quảng cáo---
--Quảng cáo---

Quy chế mới khó giúp nâng cao chất lượng tiến sĩ

MAI LOAN (THỰC HIỆN) - 10:00 23/07/2021

(khoahocdoisong.vn) - "Công bố quốc tế là cách tốt nhất để rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài, thay vì “đóng cửa” tự công nhận với nhau trong nghiên cứu khoa học, rất nguy hiểm", TS Lê Văn Út, Trưởng Nhóm nghiên cứu trắc lượng thông tin, Trường ĐH Tôn Đức Thắng chia sẻ.

TS Lê Văn Út.

Nghiên cứu khoa học là không biên giới

Quy chế mới về đào tạo tiến sĩ vừa mới ban hành của Bộ GD&ĐT đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận về chất lượng đầu ra tiến sĩ. Quan điểm của ông thế nào?

Theo tôi, có 3 vấn đề liên quan trực tiếp đến chất lượng của đào tạo tiến sĩ trong Quy chế mới.

Thứ nhất, theo quy chế mới, nghiên cứu sinh chỉ cần công bố công trình trên những tạp chí trong nước và được tính điểm là có thể bảo vệ luân án tiến sĩ.

Thứ hai, về yêu cầu chuẩn tiếng Anh nới lỏng hơn bằng việc chấp nhận chứng chỉ quốc gia theo khung ngoại ngữ 6 bậc.

Thứ ba, số lượng nghiên cứu mà mỗi giáo sư được phép hướng dẫn tại mỗi thời điểm được tăng thêm 02, tương ứng với phó giáo sư là 1, so với quy chế cũ.

Cả ba điểm mới này trong Quy chế đào tạo tiến sĩ mới trước mắt là sẽ góp phần tăng số lượng tiến sĩ được đào tạo, nhưng khó tăng về chất lượng. Đặc biệt là việc “hạ chuẩn”, bỏ yêu cầu cần phải có công bố quốc tế như quy định của quy chế cũ.

Có ý kiến cho rằng, việc buộc phải có yêu cầu công bố quốc tế có gây khó cho ngành KHXH, nhất là có những lĩnh vực chỉ có thể công bố ở Việt Nam?

Quan điểm như thế này là không đúng tinh thần của nghiên cứu khoa học, bởi lẽ nghiên cứu khoa học là không biên giới. Các tạp chí quốc tế, hội thảo quốc tế luôn chào đón sự khác biệt, nghĩa là các ấn phẩm có chất lượng trên thế giới luôn được chấp nhận, không có sự phân biệt nào về địa lý.

Có những lĩnh vực đặc thù, khó được cộng đồng khoa học chấp nhận không, thưa ông?

Ý kiến cho rằng cộng đồng khoa học khó chấp nhận các nghiên cứu mang tính đặc thù của Việt Nam như Lịch sử Việt Nam, Triết học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh… cũng không đúng với tinh thần khoa học. Hãy thử vào các cơ sở dữ liệu khoa học uy tín của thế giới mà xem, các học giả trên thế giới công bố rất nhiều kết quả nghiên cứu về các lĩnh vực thuộc đặc thù của Việt Nam.

Ví dụ, khi tìm kiếm thống tin về “sea disputes” (tranh chấp biển, đảo) trong cở sở dữ liệu Web of Science (ISI, Mỹ) thì có ngay 47 công trình công bố về vấn đề này. Sau khi cố gắng soi hết tác giả của những công trình này thì không tìm thấy công trình nào từ Việt Nam, trong khi đó có rất nhiều học giả từ Trung Quốc. May mắn là tìm được một tác giả với tên Việt Nam “Hiep LH” nhưng rất tiếc vì đây là một học giả người Việt sử dụng địa chỉ cơ quan bên Úc (nghĩa là đang làm việc cho Úc).

Việc không có (hoặc có ít) học giả Việt Nam tham gia công bố những kết quả nghiên cứu này trên các tạp chí uy tín của thế giới thì rất có thể cũng là một thiệt thòi cho đất nước trong quá trình đấu tranh cho chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đây nên là câu hỏi cơ bản dành cho các nhà sử học hàng đầu của Việt Nam.

Chuẩn càng thấp mua bán càng dễ dàng

Nhiều ý kiến lo ngại, chuẩn luận án tiến sĩ cao có dễ dẫn đến việc “mua bán” trong công bố khoa học, thưa ông?

Đã gọi là mua bán thì chuẩn nào cũng có thể mua bán. Nguy hiểm hơn nữa, chuấn càng thấp thì có thể việc mua bán càng dễ dàng hơn, giá rẻ hơn nhưng có thể khó phát hiện hơn vì ít bị cộng đồng khoa học quốc tế quan tâm. Ngoài ra, ý kiến này cũng na ná kiểu như: đi xe máy thì dễ gây tai nạn và dễ chết người hơn đi xe đạp nên chúng ta nên bỏ xe máy và chỉ nên đi xe đạp thôi, và hệ quả là cùng nhau lạc hậu.

Việc chú trọng công bố quốc tế có phải là tư duy “sính ngoại” và khiến cho khoa học Việt Nam không phát triển không, thưa ông?

Theo tôi, đã đến lúc cần xem lại khái niệm “tạp chí nước ngoài” hay “tạp chí trong nước”. Thực chất, Việt Nam đã có những tạp chí được xuất bản bằng tiếng Anh, thu hút công trình toàn cầu và có những tạp chí đã được công nhận trên thế giới thông qua việc những tạp chí này được liệt kê vào các cơ sở dữ liệu ISI/Scopus.

Nếu cần phân biệt thì nên chia hai nhóm như sau: 1/Tạp chí quốc tế gồm cả những tạp chí nước ngoài có uy tín (được liệt kê vào các cơ sở dữ liệu ISI/Scopus hay được xuất bản bởi những tổ chức uy tín) và có nhiều tạp chí của Việt Nam đã đạt chuẩn này; 2/Tạp chí không quốc tế (hay tạp chí quốc gia, được tính điểm) gồm các tạp chí xuất bản bằng tiếng Việt.

Khi đã hiểu như vậy thì khái niệm “sính ngoại” có thể trở nên mơ hồ. Lẽ nào việc những tạp chí khoa học do Việt Nam sở hữu và được xuất bản hoàn toàn bằng tiếng Anh và đã được vào các cơ sở dữ liệu uy tín ISI/Scopus lại là “sính ngoại”?

Hơn nữa, như đã nói nghiên cứu khoa học là không biên giới, một sản phẩm khoa học dù đã được phát hiện ở Mỹ hay ở Việt Nam thì cũng chỉ là một. Một khi sản phẩm khoa học này được công nhận thì đó là một sản phẩm khoa học trong chuyên ngành, nghĩa là khái niệm “sính ngoại” trở nên khập khiễng.

Quan điểm của ông thế nào về ý kiến cho rằng, việc chấp nhận công bố trong nước sẽ là động lực để các tạp chí trong nước phát triển?

Việc nâng chất lượng một tạp chí khoa học phải được cụ thể hóa bằng chất lượng của lãnh đạo tạp chí, của hội đồng thẩm định tạp chí và quan trọng là đẳng cấp của các tác giả có bài được công bố trên tạp chí này. Việc các nghiên cứu sinh công bố công trình trên những tạp chí này thì đương nhiên là tốt, trước mắt là về mặt số bài, nhưng nếu nói là để nâng chất lượng và tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế thì nên được cân nhắc thêm, bởi lẽ nghiên cứu sinh cũng chỉ là những người đang học làm nghiên cứu và năng lực của họ cũng rất khác nhau.

Vậy theo ông, quy chế như thế nào là phù hợp?

Theo tôi, Bộ GD&ĐT có thể tăng cường quyền tự chủ hơn nữa cho các đại học trong việc đào tạo tiến sĩ. Có thể có xem quy chế trên là quy định mức tối thiểu và cho phép các đại học được phép xây dựng chuẩn riêng trong việc đào tạo tiến sĩ của đại học mình và không mâu thuẫn với quy chế của Bộ GD&ĐT vừa ban hành.

Ngoài ra, Bộ có thể cân nhắc thêm việc đào tạo tiến sĩ ứng dụng (đặc biệt là đối với một số lĩnh vực đặc thù), không nhất thiết phải có các bài báo khoa học trên các tạp chí uy tín trong luận án tiến sĩ, mà luận án tiến sĩ có thể chỉ là các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong thực tiễn.

Trân trọng cảm ơn ông!

TS Lê Văn Út cho biết, có ý kiến cho rằng gửi công bố các công trình trên tạp chí quốc tế đã làm lãng phí nguồn lực của đất nước, thay vì công bố những kết quả đó trên các tạp chí quốc gia. Xét về mặt hình thức thì ý kiến này cũng có thể có lý. Tuy nhiên, chuyện phí xuất bản thường được mang ra để đánh đồng cho tất cả các tạp chí ISI/Scopus là hết sức sai lầm. Thực tế rất nhiều tạp chí không thu phí xuất bản và cũng có những tạp chí ISI/Scopus mà tác giả muốn trả vài ngàn USD cũng chưa chắc đã được đăng như Nature, Science hay PNAS. Điều đó có nghĩa, việc có công trình được công bố quốc tế là cách tốt nhất để rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài, quảng bá được giá trị của các sản phẩm “made in Vietnam” hơn. Trong khi khó, việc nghiên cứu và tự công nhận kết quả lẫn nhau có thể tạo nên tiền lệ hết sức nguy hiểm, có thể dẫn đến các vấn đề “đồng huyết” hay “tự sướng” trong nghiên cứu khoa học. Do đó, rất mong các học giả hết sức rõ ràng về việc này.


(0) Bình luận
Nổi bật Khoa học & Đời sống
TP.HCM phải tiêm toàn bộ vaccine Pfizer và Moderna trước 8/8
Thời sự- Bích Huệ - 10:45 05/08/2021
Sở Y tế TP.HCM đề nghị các đơn vị khẩn trương tổ chức tiêm toàn bộ vaccine Pfizer và Moderna để đảm bảo sử dụng hiệu quả theo phân bổ của Bộ Y tế.
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---