Kế sách giúp Việt Nam vượt qua đại dịch Covid-19

Ngày đăng : 06:31, 26/07/2021

(khoahocdoisong.vn) - Chúng ta không nên quá quan tâm đến việc đếm số ca nhiễm (vì con số này không có ý nghĩa dịch tễ học và dễ phản ảnh sai lệch về tình hình dịch) mà hãy tập trung vào đầu ra, vào tiêm chủng văcxin và vào biện pháp y tế công cộng.

Đếm số ca không quan trọng bằng 3 mục tiêu

Ở vùng Đông Nam Á, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và đặc biệt là Indonesia đều bị ảnh hưởng bởi sự tái bùng phát của dịch Covid-19. Việt Nam may mắn hơn vì số ca nhiễm ít hơn cùng tỷ lệ tử vong cũng thấp hơn. Tỷ lệ tử vong liên quan đến Covid-19 hiện nay chỉ chừng 5/1.000 ca nhiễm, so với 8/1.000 ở Thái Lan và Malaysia và 26/1.000 ở Indonesia. Có thể trong tương lai, tỷ lệ tử vong ở Việt Nam sẽ gia tăng.

Tình hình ở Indonesia và Malaysia cung cấp cho chúng ta một bài học quan trọng về giãn cách xã hội. Indonesia và Malaysia trải qua một lễ hội Eid, rất quan trọng của người Hồi giáo. Ngay từ tháng 5, đã có chuyên gia cảnh báo rằng Indonesia có thể bị ảnh hưởng bởi đợt dịch mới nếu không hạn chế lễ Eid. Kinh nghiệm năm 2020, số ca nhiễm trong 3 ngày lễ Eid "đóng góp" 10 - 20% sự gia tăng của dịch.

Có thể nói rằng ở Indonesia hiện nay hệ thống y tế không còn khả năng đáp ứng nhu cầu của số ca nhiễm gia tăng liên tục. Số ca tử vong càng tăng nhanh vì hệ thống y tế không đủ giường bệnh và oxy cho bệnh nhân mới.

Nhìn tình hình Indonesia, chúng ta cần phải xác định mục tiêu ưu tiên của chống dịch. Theo tôi, chúng ta không nên quá quan tâm đến việc đếm số ca nhiễm nữa (vì con số này không có ý nghĩa dịch tễ học và dễ phản ảnh sai lệch về tình hình dịch), mà hãy tập trung vào đầu ra, vào tiêm chủng văcxin và vào biện pháp y tế công cộng. Đầu ra ở đây là số ca nhiễm nặng, số ca nhập viện, số ca tử vong. Đó là con số có ý nghĩa mà chúng ta cần tập trung vào. Theo đó, có 3 mục tiêu hàng đầu hiện nay:

1. Bảo toàn hệ thống y tế. 

2. Tối thiểu hóa số ca nhập viện và giảm nguy cơ tử vong;

3. Giúp cho người dân tự quản lý nguy cơ.

Mục tiêu thứ nhất là bảo toàn hệ thống y tế, vì đó là hệ thống quan trọng nhất trong bất cứ quốc gia nào trước đại dịch. Chúng ta đã thấy hệ thống y tế của Indonesia bị suy sụp như thế nào và dẫn đến quá nhiều ca tử vong. 

Mục tiêu thứ hai cũng là để giảm gánh nặng cho hệ thống y tế nhưng tập trung vào việc nhận dạng những người thật sự cần nhập viện để điều trị. Không nhập viện những người bị nhiễm nhẹ, vì tuyệt đại đa số những người này sẽ bình phục mà không cần điều trị.

Tôi đề nghị có hệ thống phân nhóm, tầm soát và cách ly những người bị nhiễm theo mô hình sẽ bàn dưới đây. Hiện nay đã có mô hình tiên lượng nhận dạng những ca nhẹ nhưng có nguy cơ cao diễn biến xấu trong vài ngày, và chúng ta nên áp dụng các mô hình đó.

 

Hiện nay, đã có một số thuốc được thử nghiệm và có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân nặng (cần oxy, máy thở...). Những thuốc này bao gồm Dexamethasone, Remdesivir, Tocilizumab, Baritinib và Sarilumab. Các thuốc này có thể giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân nặng từ 30 - 40%.

Mục tiêu thứ ba (giúp cho người dân phòng dịch) là quan trọng. Bởi trong y tế công cộng, phòng bệnh hữu hiệu nhất là bắt đầu từ cá nhân, từ người bệnh (dĩ nhiên, người mới nhiễm thì chưa phải là "bệnh nhân"). Các giới chức y tế nên trao quyền và giúp cho người dân chống dịch. Cụ thể là khi cách ly tại nhà, thì nên quản lý theo nhóm nhỏ (ví dụ như vài ba chục người bị nhiễm) và có 3 bác sĩ tư vấn qua mạng. Thật ra, mô hình này rất dễ thực hiện và nên lên kế hoạch ngay.

Việc làm cụ thể để đạt 3 mục tiêu

Nếu chúng ta xác định đó là 3 mục tiêu cần đạt được, thì các biện pháp sau đây nên xem xét để áp dụng:

Xét nghiệm tầm soát, truy vết và cách ly: Đây vẫn là biện pháp quan trọng nhất trong kiểm soát dịch. Xét nghiệm không phải để biết bao nhiêu người nhiễm (việc thống kê), mà là để nhận dạng người bị nhiễm. Nguyên lý là chúng ta phải phát hiện càng nhiều ca càng tốt và qua đó ngăn chận lây nhiễm. Tốt nhất là đề nghị lấy mẫu xét nghiệm theo cụm (TPHCM đã bắt đầu làm theo phương án này). Chúng ta chỉ cần lấy mẫu chừng 5 hay cao lắm là 10% dân số là đủ (về mặt thống kê), chớ không cần lấy cả 5 triệu hay 10 triệu mẫu.

Truy vết ca nhiễm thì đã và đang làm, nhưng chưa biết hiệu quả ra sao. Ở Úc, truy vết được xem rất quan trọng để nhận dạng các ổ dịch. Cách ly những ca nhẹ ở nhà đáng lý ra nên làm từ lâu. Nhưng trễ còn hơn không. Tuy nhiên, cách ly dù ở nhà vẫn phải có tổ chức và theo quy định. Phải có phương án sàng lọc và xếp nhóm những người bị nhiễm thành 3 nhóm (nhẹ, trung, nặng). Sau đó dùng hệ thống đánh giá (dựa vào yếu tố nguy cơ) để quyết định ai cần nhập viện và ai nên được cách ly tại nhà.

Tiếp tục tiêm chủng văcxin và ưu tiên: Đây là biện pháp ưu tiên và hiểu nhiên hiện nay. Nhưng vấn đề là đối tượng nào cần được ưu tiên. Theo nguyên lý bình đẳng thì có thể xem xét ưu tiên cho 3 nhóm sau đây:

- Nhân viên y tế;

- Những người trong cộng đồng trên 60 tuổi hay có nguy cơ cao (COPD, bệnh tim mạch và cao huyết áp, tiểu đường, bệnh thận, bệnh gan, ung thư, béo phì...);

- Những người trong cộng đồng dưới 60 tuổi nhưng có nguy cơ cao và làm việc trong lĩnh vực thiết yếu như bán lẻ, hãng xưởng quan trọng.

Duy trì giãn cách xã hội: Cho dù đã tiêm văcxin thì vẫn cần giãn cách xã hội một thời gian. Văcxin có chức năng chính là giảm số ca nặng và giảm tử vong. Giãn cách xã hội sẽ là biện pháp lâu dài. Có người dự báo rằng tương lai sống với con virus này thì giãn cách xã hội trở thành... bình thường. Trước mắt, phải ngưng các lễ hội và những tụ tập đông người.

Việc phong tỏa cũng nên duy trì một số hoạt động sản xuất và kinh doanh thiết yếu. Tuy nhiên, có thể ưu tiên cho những người đã được tiêm văcxin vào làm việc và xét nghiệm thường xuyên. Ở Úc, có nơi đã ra quy định cứ 3 ngày thì xét nghiệm một lần cho những công nhân viên trong nhóm "thiết yếu".

Tóm lại, cần sàng lọc người nhiễm để nhận ra những người có nguy cơ nhẹ, trung bình hay nặng. Chỉ nhập viện những ca nặng hay những ca nhẹ/trung nhưng có nguy cơ cao diễn biến nặng (qua ứng dụng mô hình tiên lượng). Trong điều kiện lý tưởng, chúng ta cần chứng cứ khoa học để biết kế sách này có hiệu quả cao hay thấp, nhưng trong điều kiện thiếu thốn thông tin và khẩn cấp như hiện nay, những biện pháp đơn giản này vốn đã chứng minh là an toàn và hiệu quả rất cần nên xem xét áp dụng ở Việt Nam.

GS Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu di truyền dịch tễ học và loãng xương thuộc Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Australia; là Giáo sư Y của Đại học New South Wales, Giáo sư Y khoa tiên lượng kiêm Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y tế của Đại học Công nghệ Sydney. Tác giả là người gốc Việt đầu tiên được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Australia. 

GS Nguyễn Văn Tuấn