--Quảng cáo---
--Quảng cáo---

"Nóng" dư luận với quan điểm cần chấm dứt khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn"

MAI NGUYỄN - 10:20 25/11/2021

Để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo, GS Trần Ngọc Thêm kiến nghị cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn".

Trọng Lễ là triết lý giáo dục của thời phong kiến

Trong tham luận: "Xây dựng Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo", GS Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến việc chấm dứt sử dụng khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn".

gs-tran-ngoc-them.jpg
GS Trần Ngọc Thêm. Ảnh: USSH.

Tham luận này được GS Trần Ngọc Thêm trình bày tại hội thảo Giáo dục Việt Nam chủ đề "Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo" do Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội tổ chức ngày 21/11.

Theo GS Trần Ngọc Thêm, Việt Nam hiện nay đang xây dựng một xã hội phát triển và hội nhập, trong khi văn hóa Việt Nam mới đang trong giai đoạn chuyển đổi. Văn hóa học đường Việt Nam phải có sự biến đổi căn bản từ mô hình hướng đến xã hội ổn định chuyển sang mô hình hướng tới xã hội phát triển.

GS Trần Ngọc Thêm cho rằng, năng lực và tri thức (tài) về kinh điển Nho giáo nằm gọn trong một chữ VĂN, phẩm chất (đức) "trung - hiếu - tiết nghĩa" nằm gọn trong một chữ LỄ. Quan hệ giữa "đức" và "tài", giữa "lễ" và "văn" được đúc kết trong câu "Tiên học Lễ, hậu học Văn".
Trọng Lễ chính là một nguyên lý cơ bản trong triết lý giáo dục của thời phong kiến. Không phải ngẫu nhiên mà trong chính quyền phong kiến, Bộ quản lý toàn diện các hoạt động văn hóa, giáo dục, ngoại giao được đặt tên là "Bộ LỄ" và đứng ở vị trí thứ hai, chỉ sau Bộ Lại quản lý về nội vụ.

Chữ Lễ theo Hán Nho là phải biết giữ mình trong khuôn phép, biết phục tùng người trên. GS Trần Văn Giàu viết: "Lễ trở thành những hình thức ràng buộc. Ràng buộc của Lễ phong kiến rất phiền phức, khó chịu".

Trong đào tạo người thừa hành thì phương pháp giáo dục thích hợp hiển nhiên là lấy thầy làm trung tâm, người thầy được đặt vào vị trí thứ hai (sau Vua) trong thang bậc "Quân-Sư-Phụ". 

Như thế, từ nguyên lý giáo dục đến phương pháp giáo dục thời phong kiến đều thống nhất phục vụ cho sứ mệnh giáo dục là đào tạo người thừa hành và mục tiêu giáo dục là cung cấp nguồn nhân lực để "trị quốc an dân".

Trong giáo dục, tính thụ động thể hiện ở mọi nơi: Con cái thụ động trong quan hệ với cha mẹ, người học trong quan hệ với người dạy và người dạy thụ động trong quan hệ với nhà trường, nhà trường thụ động trong quan hệ với bộ máy cấp trên.

Sau năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cố gắng để thay đổi một số quan niệm và thói quen trong văn hóa học đường truyền thống, để xã hội Việt Nam có con người sáng tạo.

Cụ thể, Bác ít khi nói đến "lễ" và "văn", "Tiên học Lễ, hậu học Văn"; Bác cũng không đặt "đức" trước "tài", mà đặt "tài" trước "đức". Ngày 20/11/1946, với tư cách là Chủ tịch Nước, Bác công bố bức thư có tên là "Tìm người tài đức" (sau này được coi là "Chiếu cầu hiền thời Cách mạng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Từ đó về sau, Bác thường xuyên dùng cách diễn đạt "có tài có đức". 

Để có con người sáng tạo, cần đề cao dân chủ trong giáo dục

GS Trần Ngọc Thêm cho rằng, để có con người sáng tạo, cần đề cao dân chủ trong giáo dục, khuyến khích tư duy phản biện, khai phóng, khuyến khích sự sáng tạo trong giáo dục con người. Cần chống việc nhồi nhét kiến thức, chống việc học thuộc lòng.

Cho đến nay, tình trạng phổ biến là mọi đề thi (kể cả tự luận) từ phổ thông đến đại học đều phải có sẵn đáp án đính kèm. Mọi sáng tạo độc đáo khác với đáp án thường bị điểm kém. 

Đề cao quá mức vai trò của người thầy có thể kéo theo hệ quả là một bộ phận thầy cô ngộ nhận về quyền lực của mình. Vai trò thực sự của người thầy trong giáo dục sáng tạo là hướng dẫn người học sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về sự sáng tạo của mình. Dân chủ trong giáo dục là dân chủ trong trao đổi và sáng tạo tri thức, dân chủ phải đi cùng với pháp quyền chứ không phải thứ dân chủ dẫn đến rối loạn xã hội.

Để có con người sáng tạo, cần chống bệnh thành tích, bệnh phong trào và bệnh đối phó. Các căn bệnh này có ở cả trong người học, trong phụ huynh và trong nhà quản lý.

Người xưa đi học cốt để thi đỗ làm quan thì nay tuy có động cơ học tập đúng trên lý thuyết nhưng trên thực tế một số không nhỏ người học vẫn chỉ lo học để đối phó với thi cử (trong cuộc khảo sát năm 2020, chỉ có 9,4% người học thực sự vì tri thức, học suốt đời). Số đông phụ huynh vẫn chỉ mong con cái có điểm số cao (57,6%), ra trường có thu nhập cao (71,9%) và địa vị cao trong xã hội (57,9%).  

Để khuyến khích sáng tạo, khuyến khích tư duy phản biện, cần thay việc giáo dục hàng loạt với quan niệm thành tích tính theo điểm số, theo số lượng trò điểm cao, thi đỗ bằng giáo dục cá nhân hóa theo quan niệm giáo dục phải "làm phát triển hoàn toàn các năng lực sẵn có của các em" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến trong "Thư gửi các học sinh" nhân dịp khai giảng đầu năm học năm 1945.

Từ đó GS Trần Văn Thêm kiến nghị, để đổi mới giáo dục và đào tạo cần có một giải pháp tổng thể nhưng không dàn trải mà có chìa khóa, có trọng tâm, trọng điểm. Chìa khóa phải là thay đổi triết lý giáo dục. Trong triết lý giáo dục, trọng tâm, trọng điểm phải là thay đổi mô hình văn hóa giáo dục nói chung và văn hóa học đường nói riêng từ mô hình hướng đến xã hội ổn định chuyển sang mô hình hướng đến xã hội phát triển.

Để có con người sáng tạo, chủ động, cần loại trừ tính thụ động ở người dưới (học trò/ con cái) và tính áp đặt ở người trên (thầy cô/ cha mẹ). Cần bắt đầu từ việc thay đổi quan niệm, không sử dụng những cách biểu đạt mang tính thụ động như "con ngoan trò giỏi" (ngoan theo nghĩa ‘dễ bảo, vâng lời’, giỏi theo nghĩa ‘thuộc bài’).

Để có con người chủ động, bên cạnh việc tạo dựng một môi trường khuyến khích tính chủ động, điều quan trọng là người học phải tự tin. Để chủ động và tự tin trong giao tiếp thì người học phải rèn luyện tư duy phản biện và phải có bản lĩnh để nghĩ khác, nói khác với số đông các bạn học còn lại, thoát ra khỏi áp lực của họ.

Để chủ động và tự tin trong hoạt động thì người học phải rèn luyện phong cách làm việc khoa học, có kế hoạch.

Để có con người sáng tạo, cần thực hiện dân chủ trong giáo dục, cần thay đổi quan niệm về người thầy từ việc truyền thụ kiến thức sang việc hướng dẫn người học sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về sự sáng tạo của mình.

Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn" để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo. Chống việc nhồi nhét kiến thức, chống việc học thuộc lòng; thay đổi quan niệm về cách biên soạn sách giáo khoa (để đáp ứng nhu cầu học thuộc lòng), cách ra đề thi kèm theo đáp án; chấm dứt cách học theo bài mẫu.

Chừng nào còn đề cao chữ Lễ để ràng buộc người học, còn đề cao quá mức vai trò của người thầy, của đáp án thì tư duy phản biện sẽ không thể phát triển, không thể có xã hội phát triển. 


(0) Bình luận
Nổi bật Khoa học & Đời sống