Bài thuốc bổ huyết cổ phương nổi tiếng

(khoahocdoisong.vn) - Đây là bài thuốc cổ phương nổi tiếng do danh y Chu Đan Khế lập, chuyên dùng để chữa chứng “Hậu thiên – huyết hư”, thiếu máu, người gầy da xanh vàng, hay sốt về chiều... Người xưa cho đây là bài thuốc của ba kinh: Kinh thủ thiếu âm, kinh túc quyết âm và kinh Túc thái âm.

Thiếu huyết phát sinh trăm bệnh

Theo y lý cổ truyền, các tạng phế và thận là chủ của “khí”, còn hai tạng tâm và can là chủ của huyết. Khí hòa trong huyết thúc đẩy huyết lưu thông. Huyết nhờ khí mà vận hành. Khí huyết vận hành không ngừng, thuận thì vô bệnh, bị cản trở làm cho biểu lý không thông, thăng giáng không theo quy luật, thanh trọc lẫn lộn thì sẽ phát sinh trăm bệnh.

Huyết chủ về dinh dưỡng, cơ thể nhờ có huyết mới phồn vinh, hệ nội tiết mới phát triển bình thường, phủ tạng mới khỏe mạnh. Tai mắt nhờ có huyết mới nghe rõ trông tinh; tay chân nhờ có huyết mới cử động được dễ dàng; con người nhờ có huyết mới đứng vững được và mới có sức mạnh. Huyết kém bên trong thì sinh chứng “hư lao”; thiếu bên ngoài thì sinh chứng “mòn nhược”. Huyết nhiệt thì sinh phiền táo, có khi có chảy máu (đái máu, đại tiện máu...), huyết hàn thì sinh sợ gió, sợ lạnh, có khi mắc chứng tê mỏi, quyết tý.

Thuốc của khí huyết theo y học cổ truyền thường đi đôi với nhau, vì khí huyết vận hành phải dựa vào nhau. Thuốc để điều khí có thể dùng để điều huyết nhưng thuốc để điều huyết thì ít dùng để điều khí. Thuốc bổ huyết cũng là thuốc bổ tỳ thổ vì huyết vốn do tỳ thổ sinh ra.

Bổ và ôn huyết chữa thiếu máu

“Tứ vật thang” là bài thuốc bổ huyết cổ phương dùng chữa chứng “hậu thiên – huyết hư”, thiếu máu, người gày yếu, da xanh vàng, hay sốt về chiều; phụ nữ kinh nguyệt không đều, ra máu đen, khí hư đau bụng khi thấy kinh. Đặc biệt, còn dùng để chữa đàn ông bị hư yếu tinh huyết, đàn bà bị sản hậu, tích huyết, phát sốt nóng dai dẳng.

Thành phần bài thuốc gồm: Xuyên khung 12g, đương quy 15g, bạch thược 12g, thục địa 15g, sắc uống hàng ngày lúc nóng. Bài này dùng đương quy là chủ vị để chữa huyết (bổ và ôn); sinh địa hay thục địa và bạch thược là để bổ âm huyết và liễm âm phận. Xuyên khung để hỗ trợ tính ôn bổ của 3 vị trên.

Tính dược của các vị thuốc: Đương quy vị ngọt cay, tính ấm, mùi thơm, đi vào ba kinh: tâm, can, tỳ. Đương quy có tác dụng bổ huyết, làm huyết lưu thông, điều hòa kinh nguyệt, làm nhuận tràng. Y học cổ truyền dùng đương quy như đầu vị bổ huyết, chữa suy nhược, các trạng thái mệt mỏi của cơ thể, đau lưng, mỏi gói, phụ nữ kinh nguyệt không đều.

Thục địa là sinh địa đem đồ chính và sao tẩm thành. Thục địa có vị ngọt, tính hơi ôn vào 3 kinh: Tâm, can, thận có tác dụng bổ thận dưỡng âm, làm đen râu tóc, chữa huyết hư, kinh nguyệt không đều, tiêu khát, âm hư, ho xuyễn. Liều dùng từ 10 – 15g dưới dạng thuốc sắc hay cao lỏng thường dùng phối hợp với các thuốc khác. Y học hiện đại, dựa theo nhiều nghiên cứu của Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên thì sinh địa có tác dụng làm hạ đường huyết, ức chế adrenalin, làm mạnh tim và lợi tiểu. Ngoài ra còn có tác dụng cầm máu.

Xuyên khung vị cay, tính ấm có mùi thơm, vào ba kinh: Can, đởm và tâm bào. Có tác dụng hành khí, hoạt huyết, trừ phong, giảm đau. Đông y dùng xuyên khung để dưỡng huyết, điều kinh, chữa phong thấp, nhức mỏi xương khớp, cảm mạo, nhức đầu, bụng đầy chướng hoặc bị ung ngọt. Nghiên cứu hiện đại cho biết, xuyên khung xuyên khung có tác dụng ức chế thần kinh trung ương trên vật thí nghiệm, liều cao làm tê liệt cơ tim, gây dãn mạch ngoại biên, làm hạ huyết áp. Xuyên khung còn có tác dụng kháng sinh, ức chế nhiều loại vi khuẩn: thương hàn, phó thương hàn, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn lỵ và cả vi khuẩn mủ xanh. Kiêng kỵ với người âm hư hỏa vượng và phụ nữ có thai.

Bạch thược vị chua, hơi đắng, lạnh đi vào ba kinh: Tỳ, phế, can. Có tác dụng dưỡng huyết, liễm âm, bình can, chỉ thống (giảm đau). Đông y dùng bạch thược để chữa chứng âm huyết hư, phát sốt, ra mồ hôi trộm, đau bụng, tả lỵ tức ngực, thấy kinh đau, kinh không đều, ho đờm, tiểu tiện khí. Nghiên cứu dược lý cho biết, nước sắc bạch thược gây tăng nhu động dạ dày, ruột, liều cao gây ức chế. Bạch thược có tác dụng kháng sinh đối với nhiều chủng vi khuẩn: thương hàn, lỵ Shiga, phẩy khuẩn tả, bạch hầu, phế cầu khuẩn…Người đầy bụng, chậm tiêu không dùng bài này.

Kiêng kỵ: Hai vị xuyên khung, đương quy trong bài thuốc có tính “động” là “dương vị”, dùng để điều khí trong huyết; hai vị thục, thược có tính “tĩnh” là “âm vị”, dùng để bổ huyết. Nếu người bệnh mắc chứng âm quá hư yếu thì nên bỏ cả hai vị khung, quy; Còn nếu dương quá suy thì nên dùng thêm can khương, quế. Ở những người bị mất máu nhiều sắp nguy đến tính mạng thì không dùng bài Tứ vật này, phải dùng bài có Sâm, Kỳ. Người tỳ vị quá hư yếu cũng không được dùng bài này. Vị xuyên khung có tính hành khí nên liều lượng phải vừa phải, tùy trường hợp không nên dùng nhiều và kéo dài. Người bị sản hậu dùng bạch thược phải được tẩm rượu, sao kỹ.

GS.TSKH Hoàng Tuấn (nguyên Giám đốc Bệnh viện 19-8)

Theo Đời sống
back to top