Trang Chủ » Cánh cửa tri thức » Tìm hiểu lịch sử » Xét xử thời phong kiến – kỳ 2: Việc xét xử chưa tách thành ngạch riêng

Xét xử thời phong kiến – kỳ 2: Việc xét xử chưa tách thành ngạch riêng

08/06/2018

Việc xét xử chưa tách thành ngạch riêng độc lập với hoạt động hành chính trong thời phong kiến. Do đó tòa án cũng chưa có sự phân tách giữa chức năng hành chính và chức năng tư pháp.

Vua là người có quyền xét xử tối cao.

Vua là người có quyền xét xử tối cao

Từ đời vua Lê Thần Tông cho đến hết đời Lê có các tòa đệ nhất cấp, là tòa án cấp dưới cùng đứng đầu là các quan huyện; tòa đệ nhị cấp đặt ở mỗi phủ và do quan Phủ chủ tọa; tòa đệ tam cấp đặt ở mỗi đạo gọi là Thừa ti; tòa đệ tứ cấp gọi là Hiến ty cũng được đặt ở cấp đạo; tòa phúc thẩm ở mỗi đạo gọi là tòa giám sát có một vị quan đứng đầu gọi là quan giám sát (về sau đổi tên gọi là quan Cai đạo).

Nhìn chung tòa án thời phong kiến, vua vẫn là người có quyền xét xử tối cao. Các vị quan giải quyết việc kiện tụng trong nước chỉ là những người đại diện của nhà vua thực thi quyền xét xử.

Qua các giai đoạn phát triển cho thấy, hoạt động xét xử đã dần có sự phân cấp, có sự phân công nhiệm vụ giải quyết từng loại công việc cụ thể. Tuy nhiên sự phân cấp đó lại rất thiếu những công cụ giám sát và những ràng buộc về trách nhiệm cụ thể.

Tòa án thời phong kiến chưa có sự phân tách giữa chức năng hành chính và chức năng tư pháp. Công tác xét xử không được tách thành một ngạch riêng biệt, độc lập với hoạt động hành chính.

Ở địa phương, xã trưởng và tiên chỉ là người xét xử những vấn đề thông thường ở xã, nguồn xét xử chủ yếu dựa vào lệ làng, hương ước hay khoán ước của làng. Hầu hết những vấn đề tranh chấp trong xã đều được giải quyết tại cấp này.

Xử án không đúng, bị phạt

Về xét xử một vụ án, nhà Lê quy định, vụ kiện nhỏ xử trong năm ngày, với hành vi mưu sát có thể kéo dài tới một năm. Đời vua Lê Huyền Tông, năm 1665, triều đình quy định án lớn mà xử không đúng thì vị quan đó bị xử biếm một tư (giảm một cấp), cho nộp tiền chuộc theo mức độ từ 15 đến 100 quan. Án nhỏ mà xử không đúng thì xử phạt bằng tiền, mức độ từ 5 quan với quan cấp xã, 15 quan với quan cấp đạo và 20 quan tiền với quan Ngự sử.

Triều Lê cũng yêu cầu hệ thống quan lại mỗi năm phải thống kê đầy đủ số lượng vụ án, số vụ đã được xét xử, từ cấp xã trở lên. Các đạo phải kê khai đủ bao nhiêu án đã xử, trong đó bao nhiêu án xử phạt, bao nhiêu án chưa xử xong, kèm theo nguyên nhân. Các bản thống kê phải được nộp lên Ngự sử đài vào hạ tuần tháng 11 hằng năm.

Đời Lê Dụ Tông, năm 1717 quy định soát vào hạ tuần tháng 10, quan phủ soát lại những án quan huyện đã xử. Thượng tuần tháng 11, Thừa ty soát lại án của phủ, huyện đã xử.

Trung tuần tháng 11, Hiến ty soát lại những án của các nha môn Thừa ty và Trấn thủ Lưu thủ. Hạ tuần tháng 11, Cai đạo soát lại những án xử của Hiến ty và Ngự sử đài cũng soát lại các án của Cai đạo từng xử.

Thời hạn soát lại các án là một tuần (tuần thời xưa là 10 ngày). Thượng tuần tháng 12, Ngự sử đài đem số án nộp lên cho Chúa và triều đình.

Năm 1718, vua Lê Dụ Tông từng ra dụ cho các quan rằng: “Gốc của việc chính trị quý nhất là bớt kiện tụng… Nay cần bàn định để cốt cho đổi thói kiện tụng, gây đạo liêm sỉ để tỏ rõ chính sách bình trị”.

Việc xét xử những vụ việc thông thường chủ yếu diễn ra ở cấp xã. Xã nào cũng có pháp đình riêng do nhân vật quan trọng nhất trong xã chủ tọa.

Trước thời Nguyễn, vị “chủ tịch” pháp đình hàng xã thường là vị xã trưởng, vì trong thời kỳ này xã trưởng là người có uy tín nhất trong xã. Nhưng tình hình này đã thay đổi hẳn dưới triều Nguyễn kể từ năm 1802 trở đi, đó là Tiên chỉ – đệ nhất kì mục là người xét xử.

(còn nữa

         Nguyễn Thành Hữu

Bài viết liên quan

Free WordPress Themes, Free Android Games