Trang Chủ » Dọc đường » Kỳ 5: Từ thầy giáo thành Đại Vương

Kỳ 5: Từ thầy giáo thành Đại Vương

28/09/2017

Tròn 222 năm trước, một thầy giáo lỗi lạc sau khi qua đời đã được nhà vua phong làm Phúc Thần Đại Vương, được thờ trong ngôi đình của quê hương và trở thành Thành hoàng làng của làng Trung Tự.

Tâm tướng hiền năng

Qua cổng làng Trung Tự, phường Phương Liên (Đống Đa – Hà Nội), chỉ sải thêm vài bước chân nữa là chạm tới ngôi đình cổ kính. Cây thị thần án ngữ bên tả là “nhân chứng” của làng sau bao buổi tao loạn đất kinh kỳ vẫn sừng sững đứng đó tỏa bóng mát rượi.

Làng Trung Tự, nay thuộc phường Phương Liên.

Ông Mai Thế Tế, Trưởng ban quản lý di tích đình Trung Tự sau một hồi dẫn khách giới thiệu về những bia đá, những sắc phong lẫn kiến trục độc lạ của đình, thì câu chuyện trung tâm lại được hướng về Thành hoàng làng đầy tôn kính mà cũng rất gần gũi, mực thước.

Đó là cụ Nguyễn Hy Quang, sinh năm Giáp Tuất, niên hiệu Đức Long (1634) quê ở làng Trung Tự, phường Đông Tác, huyện Thọ Xương thuộc kinh thành Thăng Long xưa.

“Năm 2008, tại đình Trung Tự đã hội thảo khoa học về danh nhân Nguyễn Hy Quang – Nhà giáo tài đức có công lao góp phần xây dựng nền thịnh trị của đất nước cuối thế kỷ XVII. Hội thảo đã đánh giá ông là người tài năng, cương trực, có lối sống thanh bạch, gắn bó với nhân dân”, ông Mai Thế Tế, Trưởng ban quản lý di tích đình Trung Tự.

Theo những dòng sử để lại thì gia đình thầy giáo Nguyễn Hy Quang đã đến định cư tại Thăng Long từ giữa thời Lê sơ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XVI, dòng họ này bị một viên Thái phó là Việt Quận công chiếm đất. Từ đó, người dân làng Trung Tự phải sang trú nhờ làng Kim Hoa ở kế bên.

Đình làng Trung Tự thờ cụ Nguyễn Hy Quang làm Thành hoàng làng.

Nguyễn Hy Quang ra đời trong cảnh nghèo khó, nhưng một thầy tướng số trông thấy ông dạo bước ở hồ Dâm Đàm thì khen rằng: “Đây là bậc hiền năng như Trương Lương đời Hán, Ngụy Trưng đời Đường. Ngày sau tất sẽ làm việc lớn phò vua giúp nước”.

Theo các cao niên làng Trung Tự, thì thuở nhỏ Nguyễn Hy Quang học ở nhà, sau theo học thầy Nguyễn Tự Huy. Theo thầy hai năm, Hy Quang chuyển sang học quan Trưởng sử họ Trần. Sau đó, ông về nhà tự học thêm 3 năm nữa. Nhờ vậy mà ông thông Nho thạo Nôm, kiến thức cổ kim đều tỏ. Đề đốc Văn Phụng hầu Phạm Công Túc vì mến tài mà gả con gái cho.

Năm 23 tuổi, tức năm 1657 Hy Quang tham dự kì thi Hương khoa Đinh Dậu đỗ giải Nguyên; năm 1670 đỗ khoa Sĩ Vọng. Sau được bổ làm Giáo thụ phủ Thường Tín.

Đáng bậc sư thần

Ngày nay, những dòng bia sử ở đình Trung Tự tuy không còn rõ nét. Mấy trăm năm mưa gió đã phần nào làm bạc bia mòn chữ nhưng những công lao của thầy giáo Nguyễn Hy Quang thì vẫn sáng như gương ngọc.

Chức tước đáng ghi đầu tiên mà một người thầy làng Trung Tự nắm giữ là chức Lang trung bộ Lại kiêm Tri bộ Hộ và được giao thêm việc dạy Trịnh Bính, con của Thái phó. Khi Trịnh Bính còn ít tuổi, ông thường dắt lên điện đình, chỉ bảo cặn kẽ. Sau này, ông tham dự phụ tá việc nhiếp chính của Trịnh Bính.

Cây “Thị thần” cổ thụ cạnh đình Trung Tự.

Vị thế quan trọng, nhưng cũng đầy phức tạp đã khiến thầy giáo Hy Quang chịu không ít thị phi. Tuy nhiên, ông đã dốc hết tâm sức làm tròn. Nghe chuyện bịa đặt dèm pha, ông vẫn cứng cỏi không dao động, lấy khuôn phép người xưa để tự mình gắng sức.

Ông Mai Thế Tế cho biết, Thành hoàng làng Nguyễn Hy Quang khi còn sống đã có đóng góp lớn đối với làng Trung Tự trong việc đòi lại đất bị quan lại lấn chiếm từ nhiều đời trước. Sau khi đỗ Giải Nguyên năm 1657, ông đã vận động đoàn kết các dòng họ trong làng, tìm cách đòi lại đất cũ.

Trải qua 3, 4 lần xét xử, đến năm 1674 sau khoảng 80 năm phải “ở nhờ”, người dân Đông Tác – Trung Tự đã được trở về phục nghiệp trên mảnh đất cũ của tổ tiên. Trong năm này, ông bỏ tiền lương cùng dân làng Trung Tự sửa sang làng xóm. Biết đó là nơi nền đất yếu, Trịnh Bính cho quân dẫn theo đàn voi đến khu đất mà dậm nền nhà cho vững để trả ơn thầy.

Tháng 6/1691, thầy giáo Nguyễn Hy Quang được thăng làm Công khoa Đô cấp Sự trung, tước Hiển Phương bá, nhưng sau đó ông xin nghỉ hưu. Năm sau, ông lâm trọng bệnh rồi qua đời. Chúa Trịnh thương xót lệnh nghỉ chầu ba ngày và sai các quan trong bộ Lễ lo việc tang tế.

Cụ Thủ từ Nguyễn Văn Viết giới thiệu về “bia đòi đất”.

Trong văn tế thầy, Trịnh Bính viết: “Học tất phải có thầy, lễ trước tiên là trọng đạo. Thầy có tài kinh luận, truyền bảo cho trò. Trò nhờ dạy dỗ mà có kiến thức, vận dụng thực thi, làm lợi nước nhà. Tất cả hoàn toàn là nhờ ơn thầy. Nhớ thuở học xưa, nghe lời giảng sáng, được đọc sách hay, thương xót khôn cùng”.

Thành hoàng làng uyên thâm

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương cho rằng: “Không chỉ là một thầy giáo, một vị quan rường cột triều đình, Thành hoàng làng Nguyễn Hy Quang còn là một người uyên thâm, lỗi lạc. Ông để lại nhiều trước tác cho hậu thế”.

Ông Xương cho biết thêm, khi chúa Trịnh qua nhiều lần đàm đạo tỏ ý hài lòng và có tặng thơ lại cho Nguyễn Hy Quang. Nhân đó, Hy Quang soạn dâng bản “Quân thần luận” chấn chỉnh kỷ cương đất nước và yên lòng dân.

Ông Mai Thế Tế thì cho rằng, Thành hoàng làng Nguyễn Hy Quang hay làm thơ chữ Nôm và có soạn sách. Cụ có để lại cuốn “Quốc âm sự dẫn” được coi là của gia bảo dòng họ Nguyễn làng Trung Tự.

50 năm sau khi ông qua đời, Nguyễn Hy Quang được gia phong làm Phúc Thần Đại Vương với lời đánh giá như sau: “… tài cao bậc lương đống, vật báu như ngọc quý. Trong màn trướng đã bồi giảng nền học thánh hiền. Kịp thời đúng lúc và hết lòng phụ tá, góp nhiều ý hay vào mưu lược quốc gia”.

“Bia đòi đất” có hình triện, hai mặt úp vào nhau.

Dựa vào những sắc phong, sử liệu còn giữ được ở đình Trung Tự thì sau khi qua đời, Nguyễn Hy Quang được chúa Trịnh truy tặng hàm Thị Lang gia phong Thượng Thư tước Hiển Quận Công.

“Từ trường hợp thầy giáo lỗi lạc Nguyễn Hy Quang trở thành Thành hoàng làng của Trung Tự, cho hậu thế thấy rằng ngôi vị Thành hoàng làng không phải xa xôi, mê tín gì. Ngược lại, Thành hoàng làng là một ân phúc gần gũi; khi sống họ giúp dân, khi chết họ phù hộ cho dân”, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương.

Đến năm 1745 niên hiệu Cảnh Hưng, ông được phong Trung Đẳng Phúc Thần tặng phong mỹ tự Trực Ôn Văn Nhã Thông mẫn Tài tuấn, Đại độ Khoan hòa Đại vương. Sau này, Trịnh Khải ra lệnh sai quan đến tế theo lễ “Thiếu lao” cho dân hai phường Đông Tác và Kim Hoa là dân tạo lệ, được miễn phu dịch để trông nom đền miếu, hàng năm Xuân – Thu hai kỳ tế lễ.

Cụ Nguyễn Văn Viết, Thủ từ đình Trung Tự, cho biết: Trong đình còn có đôi câu đối “Khang thuỷ La thành vượng khí bán phần Long Đỗ thắng/Âu phong Á vũ sùng từ trường đối Tản Viên phong” – lược dịch: Hồ Khang, Thành La, khí vượng bằng nửa phần cảnh đẹp Long Đỗ/Gió Âu, mưa Á, đền thiêng sánh lâu dài đỉnh núi Tản Viên.

 

Kỳ 6: Dũng sĩ diệt rắn

 Trần Hòa

 

Free WordPress Themes, Free Android Games